CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CẠNH TRANH TRUNG QUỐC – NHẬT BẢN TẠI TIỂU VÙNG SÔNG MÊ CÔNG GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 1992 ĐẾN NĂM 2022 1. Khái niệm cạnh tranh trong quan hệ quốc tế Trong nghiên cứu quan hệ quốc tế, thuật ngữ cạnh tranh thường được sử dụng với nhiều sắc thái khác nhau, trong đó có hai cách tiếp cận chính đối với cạnh tranh là cách tiếp cận dựa trên lợi ích và cách tiếp cận dựa trên tâm lý thù địch. Thứ nhất, các nghiên cứu về cạnh tranh dựa trên lợi ích thường cho rằng khái niệm cạnh tranh thể hiện “cuộc đấu tranh của các lợi ích trái ngược nhau” [40] xuất phát từ “sự tương tác giữa các cá nhân phát sinh do các nhu cầu chung đối với một nguồn tài nguyên hạn chế” [38]. Các khái niệm này bị chi phối nhiều bởi quan điểm chủ nghĩa hiện thực và thực tiễn các cuộc xung đột xung quanh các nguồn tài nguyên hữu hạn.
Tuy nhiên, nếu chỉ giới hạn sự cạnh tranh diễn ra giữa những lợi ích mâu thuẫn liên quan đến tài nguyên thì khái niệm cạnh tranh sẽ trở nên hạn hẹp. Thực tế, những lợi ích quốc gia rất đa dạng và như vậy cần có sự mở rộng hơn về đối tượng của cạnh tranh. Collin Gray đã đưa ra khái niệm cạnh tranh là “nỗ lực giành lợi thế, thường liên quan đến những nhân tố khác được cho là thách thức hoặc đe dọa, thông qua việc theo đuổi lợi ích của đối tượng bị tranh chấp như: quyền lực, an ninh, thịnh vượng, ảnh hưởng và địa vị” [42]. Để phân biệt tình trạng cạnh tranh với xung đột và chiến tranh, nhiều khái niệm đưa ra đã cụ thể hóa tình trạng cạnh tranh như “một trạng thái của mối quan hệ đối kháng thiếu xung đột vũ trang trực tiếp giữa các chủ thể” [52], “nhằm đạt được thành tích bằng cách đánh bại các đối thủ khác” [41].
Từ những khái niệm trên, có thể hiểu các quan 11 điểm theo cách tiếp cận này cho rằng cạnh tranh là nỗ lực giành ưu thế về nguồn lực, lợi ích của một bên so với bên còn lại. Thứ hai, một hướng nghiên cứu khác đặt cạnh tranh trong mối quan hệ chứa đựng tâm lý đối địch giữa các chủ thể quan hệ quốc tế. Theo hướng tiếp cận này, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng “cạnh tranh là khi các cặp quan hệ nhận thức được mối nguy cơ ở mức độ cao từ bên còn lại xảy ra ít nhất 2 tranh chấp bị quân sự hóa” [62], “là một mối quan hệ có sự tranh giành cực đoan và thù địch về tâm lý mà trong mối quan hệ đó, quan điểm đối với vấn đề của một bên bị chi phối bởi thái độ của bên đó đối với bên còn lại hơn là bởi mối đe dọa” [62]. Trong cuốn sách Strategic Rivalries in World Politics: Position, Space and Conflict Escalation (tạm dịch: Cạnh tranh chiến lược trong Chính trị quốc tế: Lập trường, không gian và sự leo thang xung đột), các tác giả Michael P.
Colaresi, Karen Rasler, và William R. Thompson đã giải thích về rằng: “Cạnh tranh đòi hỏi phải có sự kết hợp giữa tình trạng tranh đua và nhận thức về mối đe dọa từ kẻ thù” và khẳng định “đối thủ cạnh tranh chủ yếu là có tính xung đột”. Với quan niệm này, cạnh tranh dường như ở một cấp độ cao hơn so với hướng tiếp cận dựa trên tranh giành lợi ích với nhận thức về mối đe doạ từ bên còn lại. Cạnh tranh theo hướng tiếp cận này chứa đựng những tâm lý và thái độ thù địch của các bên dẫn đến hành vi bị chi phối bởi sự thù địch này và có khả năng dẫn tới những tranh chấp bị quân sự hóa, làm leo thang xung đột.
Trung Quốc và Nhật Bản đều là những nước lớn nằm trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương, đây là khu vực đang có phát triển mạnh mẽ nhưng bên cạnh đó còn tồn tại nhiều yếu tố dẫn đến mất ổn định như tranh chấp lãnh thổ, biển đảo diễn ra gay gắt, xu hướng tập hợp lực lượng và đan xen lợi ích của các quốc gia xuất hiện với nhiều hình thức mới. Những mâu thuẫn trong mối quan hệ giữa Trung Quốc và Nhật Bản không chỉ dừng ở 12 những lợi ích vật chất cụ thể như chủ quyền biển đảo – vấn đề đảo Senkaku/ Điếu Ngư tại biển Hoa Đông, lợi ích tổng thể như quyền lực, ảnh hưởng và vị thế tại khu vực. Những tâm lý thù địch cũng đã được nuôi dưỡng từ lịch sử xung đột một nghìn năm giữa hai cường quốc khu vực. Cho đến nay, hai quốc gia này vẫn không ngừng chỉ trích nhau về các vấn đề liên quan đến chiến tranh dù đã khép lại.
Đặt trong bối cảnh hiện nay, việc Nhật Bản là đồng minh then chốt của Mỹ – đối trọng của Trung Quốc tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương đã làm cho quan hệ giữa hai quốc gia này ngày càng thêm gay gắt hơn và khi nhắc đến tranh giành, đối đầu giữa hai nước thì hướng tiếp cận thứ hai về cạnh tranh thường được sử dụng để phân tích những khía cạnh của cuộc cạnh tranh này. Tuy nhiên, xem xét trường hợp nghiên cứu tại tiểu vùng sông Mê Công, khu vực không tồn tại vấn đề lịch sử hay tranh chấp lãnh thổ giữa Trung Quốc – Nhật Bản. Sự va chạm giữa hai quốc gia nằm ở quyền lực và tầm nhìn cho sự phát triển của tiểu vùng. Trung Quốc và Nhật Bản đều có chung mục tiêu là gia tăng ảnh hưởng, khẳng định vị thế và kìm chế sự ảnh hưởng của nhau, nhằm bảo vệ lợi ích của quốc gia tại khu vực này.
Do vậy, riêng đối với trường hợp nghiên cứu này, sẽ là phù hợp hơn khi luận văn sẽ tập trung phân tích, làm rõ sự cạnh tranh giữa Trung Quốc – Nhật Bản dựa trên khái niệm “cạnh tranh tình trạng các quốc gia nỗ lực giành ưu thế về nguồn lực hữu hạn, lợi ích và ảnh hưởng so với bên/các bên còn lại”. Tâm lý thù địch có thể vẫn tồn tại nhưng được nhìn nhận như một nhân tố tác động tiềm ẩn thúc đẩy cạnh tranh. Khung phân tích cạnh tranh Dựa trên khái niệm nêu trên, phân tích về cạnh tranh giữa Trung Quốc và Nhật Bản cần làm rõ ba khía cạnh chính: Một là, các nhân tố tác động bao gồm cả nhân tố có tính thúc đẩy và cản trở; Hai là, thực trạng cạnh tranh; Ba 13 là, cơ chế tác động của cạnh tranh giữa Trung Quốc và Nhật Bản tại tiểu vùng sông Mê Công giai đoạn từ năm 1992 đến năm 2022 tới khu vực và Việt Nam. Khung phân tích cạnh tranh Trung Quốc – Nhật Bản tại tiểu vùng sông Mê Công giai đoạn từ năm 1992 đến năm 2022 Môi Quốc gia trường khu vực Cạnh tranh Trung Quốc – Nhật Liên quốc gia Bản tại tiểu vùng sông Mê Công giai đoạn từ năm 1992 đến năm 2022 Các quốc gia thuộc Hệ thống tiểu vùng Mê Công, trong đó có Việt Nam Nguồn lực Ảnh hưởng Chính trị - ngoại giao Kinh tế An ninh quốc phòng Văn hóa – xã hội Thứ nhất, về phân tích các nhân tố tác động Cách tiếp cận các cấp độ phân tích thường được áp dụng trong nghiên cứu các nhân tố tác động bởi tính đa tầng nấc và toàn diện trong nhận diện và xác định các nhân tố.
Có bao nhiêu cấp độ và những cấp độ nào được xem xét nghiên cứu phụ thuộc nhiều vào quan điểm lý thuyết của các nghiên cứu. Kenneth Waltz trong công trình Man, the State and War (tạm dịch: Lãnh đạo, Nhà nước và Chiến tranh) đã hàm ý về cách tiếp cận ba cấp độ phân tích trong nghiên cứu quan hệ quốc tế: Cá nhân, quốc gia và hệ thống [46]. Trong đó, 14 quan niệm của ông về hệ thống quốc tế, sau này được phản ánh trong công trình kinh điển năm 1979 – Theory of International Politics (tạm dịch: Lý thuyết chính trị quốc tế) là sự tương tác dựa trên phân bổ quyền lực [47], như chiến tranh là một trường hợp đề cập trong tác phẩm năm 1959. Sau này những nghiên cứu với các quan điểm lý luận khác nhau đã làm phong phú thêm các cấp độ phân tích như sự bổ sung cấp độ trong nước (nội bộ), cấp độ liên quốc gia, và các thể chế, cơ chế cùng môi trường quốc tế như các yếu tố thuộc cấp độ hệ thống.
Ở cấp độ cá nhân, có thể xem xét vai trò của các lãnh đạo hai nước trong việc định hướng, thúc đẩy các chính sách từ đó tác động đến sự cạnh tranh giữa hai nước. Ở cấp độ trong nước, các nghiên cứu thường quan tâm đến tình hình kinh tế – xã hội và chính trị nội bộ của mỗi quốc gia; các nhóm lợi ích và ý chí của người dân thôi thúc hoặc ngăn cản các chính sách cạnh tranh. Ở cấp độ quốc gia có thể xem xét các chính sách được đề ra của hai nước trong nhằm tập hợp lực lượng, tranh giành ảnh hưởng, lợi ích với nhau. Ở cấp độ liên quốc gia có thể xem xét đến mối quan hệ từ trong lịch sử của các chủ thể cạnh tranh, các nhân tố quốc gia khác đóng vai trò quan trọng đối với cạnh tranh của các chủ thể chính.
Phản ứng và cách tiếp nhận của các quốc gia thuộc tiểu vùng sông Mê Công đến chính sách của Trung Quốc và Nhật Bản từ đó tác động trực tiếp đến sự cạnh tranh của Trung Quốc và Nhật Bản tại khu vực này. Các mối quan hệ chằng chéo chính là những nhân tố quan trọng tác động đến quan hệ quốc tế. Ở cấp độ hệ thống, có thể xem xét vai trò, tác động của các tổ chức quốc tế trong và ngoài khu vực, môi trường của khu vực và quốc tế liên quan đến cạnh tranh. Trong trường hợp của cạnh tranh Trung Quốc – Nhật Bản tại tiểu vùng sông Mê Công giai đoạn từ năm 1992 đến năm 2022, yếu tố cá nhân không được thể hiện rõ ràng do mục tiêu của cả hai quốc tại khu vực này chịu sự tác 15 động đến từ góc độ chính sách quốc gia và các yếu tố quốc tế.
Do vậy, việc phân tích cạnh tranh Trung Quốc – Nhật Bản tại tiểu vùng sông Mê Công sẽ tập trung phân tích từ cấp độ quốc gia, liên quốc gia và hệ thống quốc tế để làm rõ các khía cạnh cạnh tranh giữa hai nước.