Phần mở đầu: Các nội dung nhằm cung cấp một cái nhìn sơ lược về đề tài, bao gồm: lý do chọn đề tài, các mục tiêu nghiên cứu, giới thiệu các phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu cũng như nêu bật ý nghĩa khoa học và tính thực tiễn của đề tài. B - Phần nội dung gồm 03 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết về can thiệp vô hiệu hóa, các mô hình đo lường dùng trong nghiên cứu và các kết quả nghiên cứu việc thực hiện can thiệp vô hiệu hóa tại một số nước ở Châu Á và Châu Mỹ Latinh. Chƣơng 2: Thực trạng việc thực hiện can thiệp vô hiệu hóa tại Việt Nam: Chương này khảo sát thực tế về các yếu tố có liên quan đến việc thực thi biện pháp can thiệp vô hiệu hóa tại Việt Nam. Đồng thời, kết hợp với các kết quả kiểm định có được từ việc chạy mô hình cho Việt Nam để từ đó đưa ra những đánh giá cụ thể, rõ ràng về tình hình thực hiện can thiệp vô hiệu hóa tại Việt nam.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Chƣơng 3: Một số kiến nghị nhằm khắc phục những khó khăn trong thực hiện can thiệp vô hiệu hóa tại Việt Nam: Trên cơ sở các thực trạng đưa ra ở chương 2, chương này đưa ra một số kiến nghị nhằm khắc phục những hạn chế, khó khăn còn tồn tại cũng như định hướng thực hiện để việc áp dụng chính sách vô hiệu hóa đạt được hiệu quả cao hơn trong tương lai. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VIỆC CAN THIỆP VÔ HIỆU HÓA NHẰM ĐỐI PHÓ VỚI NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA CÁC DÒNG VỐN VÀO LÊN LẠM PHÁT VÀ TỶ GIÁ 1.1 Khái niệm can thiệp vô hiệu hóa Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế gắn với tự do hóa thương mại, chính sách tỷ giá có vai trò quan trọng như một công cụ điều tiết các quan hệ kinh tế quốc tế và có tác động tới tăng trưởng kinh tế. Do đó, khi những cú sốc hoặc những xáo trộn tác động đến tỷ giá xảy ra, NHNN phải tiến hành ngay các biện pháp can thiệp để đạt được một sự ổn định nhất định trong tỷ giá hối đoái nhằm phục vụ cho các mục tiêu kinh tế - xã hội của quốc gia. Ở một thời điểm nhất định, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế tài chính của quốc gia, các nước có thể áp dụng một hoặc hai biện pháp can thiệp chủ đạo, hoặc kết hợp các biện pháp điều chỉnh với nhau.
Bao gồm: Can thiệp trực tiếp vào tỷ giá bằng cách sử dụng công cụ nghiệp vụ thị trƣờng mở (open market policy): là cách thức mà ngân hàng trung ương tác động trực tiếp trên thị trường ngoại hối để làm cho đồng tiền nước mình tăng hoặc giảm giá. Khi tỷ giá cao, muốn cho đồng nội tệ lên giá, ngân hàng trung ương thông qua hệ thống ngân hàng thương mại sẽ tung ngoại tệ dự trữ ra bán trực tiếp trên thị trường để mua về đồng nội tệ, tạo tăng cung giả về ngoại hối. Tỷ giá hối đoái có xu hướng ổn định trở lại. Ngược lại, khi tỷ giá quá thấp, muốn cho đồng nội tệ mất giá, ngân hàng trung ương mua ngoại tệ vào.
Tỷ giá có xu hướng tăng cao trở lại và dự trữ ngoại hối cũng sẽ tăng lên. Can thiệp gián tiếp vào tỷ giá Thông qua sử dụng công cụ lãi suất tái chiết khấu (discount policy): Nếu tỷ giá thị trường lên cao quá mức, ngân hàng trung ương tăng lãi suất tái chiết khấu. Khi lãi suất tái chiết khấu tăng lên, lãi suất trên thị trường tăng lên, do đó vốn từ nước ngoài chảy vào nước để thu được lãi cao hơn. Cung LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 ngoại tệ sẽ tăng lên, nhu cầu về ngoại tệ giảm bớt, tỷ giá hối đoái có xu hướng giảm và ngược lại.
Thông qua các hàng rào của chính phủ đối với tài chính và mậu dịch quốc tế:Với mục đích tăng giá đồng nội tệ, chính phủ có thể tăng thuế nhập khẩu nhằm làm giảm hoạt động nhập khẩu và nhu cầu ngoại tệ sẽ giảm. Tuy nhiên, việc làm này có thể tạo ra khó khăn cho những nước có quan hệ ngoại thương và từ đó có thể sẽ nhận lấy sự trả đũa từ các quốc gia này hoặc vi phạm các cam kết trong quá trình hội nhập. Việc ngân hàng trung ương can thiệp vào thị trường ngoại hối để làm cho đồng tiền nước mình tăng hoặc giảm giá mà không có bất cứ sự điều chỉnh nào tới cung tiền nội tệ thì gọi là can thiệp không vô hiệu hóa. Theo đó, ngân hàng trung ương muốn cho đồng nội tệ lên giá bằng cách mua vào đồng nội tệ thì cung tiền giảm đi.
Ngược lại,cái giá phải trả của can thiệp làm cho đồng nội tệ giảm giá là cung tiền tăng lên. Trong trường hợp thứ nhất, cung tiền giảm đi có thể làm ảnh hưởng đến chính sách tăng trưởng kinh tế của chính phủ và trong trường hợp thứ hai, cung tiền tăng lên có thể làm cho lạm phát tăng tốc. Để việc can thiệp trên thị trường ngoại hối không làm ảnh hưởng đến các mục tiêu chính sách của chính phủ, ngân hàng trung ương tiến hành sử dụng phương thức can thiệp vô hiệu hóa. Can thiệp vô hiệu hóa Can thiệp vô hiệu hóa là sự can thiệp trực tiếp của chính phủ vào tỷ giá, được ngân hàng trung ương tiến hành bằng cách thực hiện đồng thời song song hai giao dịch (1) trên thị trường ngoại hối và (2) trên thị trường mở.
Trên thị trường ngoại hối: Khi có các dòng vốn nước ngoài đổ vào trong nước tạo nên áp lực gia tăng nhu cầu về đồng nội tệ, có khả năng đẩy giá nội tệ tăng cao. Khi đó, NHNN sẽ tiến hành in một lượng cơ số tiền để cân bằng giữa cung cầu tiền trong nước, vô hiệu hóa các tác động này nhằm hấp thụ tốt các dòng vốn ngoại và giữ cho tỷ giá tránh biến động gây tác động xấu đến cán cân tài khoản vãng lai, đồng thời tăng dự trữ ngoại hối. Tuy nhiên, việc gia tăng cung tiền sẽ có khả năng gây ra lạm phát, không tốt cho sự phát triển kinh tế. Lúc này, trên thị trường mở, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 NHNN sẽ tiến hành giao dịch thứ 2 theo một số cách sau, bao gồm các việc bán các công cụ thị trường, chẳng hạn như trái phiếu chính phủ hay tín phiếu của NHNN hoặc bằng các nghiệp vụ hoán đổi hay mua lại.
Với nghiệp vụ hoán đổi, NHNN đồng ý mua hợp đồng tỷ giá kỳ hạn, trong khi đó, với nghiệp vụ mua lại, NHNN sẽ bán đi các chứng từ có giá với thoả thuận sẽ mua chúng lại trong tương lai. Ở một số thị trường nhỏ, các nhà cầm quyền có thể sử dụng các công cụ phi thị trường nhằm bù đắp ảnh hưởng của tích luỹ dự trữ lên lượng tiền cơ sở như việc chuyển tiền ký quỹ của chính phủ và những cơ quan tài chính công từ những ngân hàng thương mại vào NHNN hay bán dự trữ ngoại hối cho chính phủ (có thể cho phép chính phủ giảm tối đa mức nợ từ bên ngoài).2 Chi phí và lợi ích của sự can thiệp vô hiệu hoá Ngày nay, trong quá trình hội nhập hóa thương mại để phát triển kinh tế, hội nhập tài chính là điều không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, việc hội nhập này sẽ kéo theo những bất ổn của thị trường. Khi thị trường tài chính được tự do, dòng vốn chảy vào các thị trường rất lớn mà đặc biệt là vào các thị trường mới nổi.
Tuy nhiên, nếu thị trường tài chính không đủ sâu để hấp thụ tốt các dòng vốn này, chúng có thể chảy sang các thị trường phát triển nóng như bất động sản, chứng khoán, vàng. Từ đó hình thành nên các bong bóng mang tính dễ vỡ do phát sinh từ những mong muốn làm giàu nhanh nhất nhưng lại bằng một nỗ lực thấp nhất. Một khi các bong bóng này nổ, sẽ kéo theo những hệ lụy không mong muốn cho nền kinh tế do sự tăng trưởng “nóng” mang lại. Sức hút từ lợi nhuận mang lại từ các dòng vốn cũng hấp dẫn các ngân hàng thương mại, khiến cho độ an toàn trong các giao dịch tín dụng được nới lỏng, hình thành các nguy cơ cao về sự bất ổn kinh tế.
Những lo ngại về bất ổn tài chính và tiền tệ đã làm tăng thêm mối liên hệ giữa tích lũy dự trữ ngoại hối và can thiệp vô hiệu hóa. Việc kết hợp hai hoạt động này tạo thành một chính sách pha trộn mà tính ổn định của nó phụ thuộc vào lợi ích và chi phí mà nó mang lại. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1 Lợi ích đạt đƣợc Bằng cách áp dụng biện pháp can thiệp vô hiệu hóa như là một trong những biện pháp kiểm soát vốn, các quốc gia đã hoàn toàn có thể theo đuổi được cả 3 mục tiêu: hội nhập tài chính, ổn định tỷ giá và độc lập tiền tệ ở một mức độ nào đó. Các dòng vốn nước ngoài sẽ được hấp thụ tốt hơn, giúp phát triển nền kinh tế trong nước, đồng thời cũng tránh gây nên những áp lực không tốt lên tỷ giá và lạm phát.
Ngoài ra, theo Aizenman và Glick (2009) việc thực hiện chính sách này sẽ giúp gia tăng nguồn dự trữ ngoại hối cho chính phủ mà lợi ích mang lại từ việc dự trữ này là rất cần thiết. Những lợi ích này đã được nêu rõ trong bài nghiên cứu của Joshua Aizenman và Nancy Marion (2003).Trước hết, lượng dự trữ ngoại hối dùng để đáp ứng nhu cầu phòng ngừa rủi ro, cung cấp khả năng tự bảo hiểm cho việc phòng ngừa trường hợp đình trệ đột ngột của dòng vốn nước ngoài chuyển vào trong nước và bù đắp cho rủi ro dòng vốn đảo chiều khi hội nhập tài chính lớn hơn. Thứ hai, dự trữ có thể dùng để giảm nhẹ tác động của cú sốc về điều kiện thương mại lên tỷ giá thực và xuất khẩu của một quốc gia, làm cho việc điều chỉnh tài khoản vãng lai của quốc gia được dễ dàng hơn. Ngoài ra, chúng còn như một khoản bảo hiểm ngầm cho phép các quốc gia tránh dựa vào Quỹ tiền tệ quốc tế, Ngân hàng thế giới và các tổ chức tài chính quốc tế khác…Cuối cùng, dự trữ cũng có thể xem như một công cụ giúp các quốc gia can thiệp vào việc quản lý tỷ giá để thúc đẩy xuất khẩu bằng cách định giá thấp đồng nội tệ.