mở đầu quá trình tố tụng hình sự, trong đó cơ quan có thẩm quyền xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để ra quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án. Đây là giai đoạn tố tụng đầu tiên của quá trình tố tụng hình sự, có tính chất độc lập bởi giai đoạn này có nhiệm vụ riêng mang đặc thù về chủ thể tố tụng, hành vi tố tụng và văn bản tố tụng [8, tr. Chủ thể có quyền khởi tố vụ án hình sự là những cơ quan có thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003. Nhiệm vụ của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự là xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để từ đó ra quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự - những văn bản tố tụng đặc trưng của giai đoạn này.
Tuy nhiên, tính độc lập của giai đoạn khởi tố vụ án cũng như các giai đoạn khác trong quá trình tố tụng chỉ mang tính tương đối, giữa chúng có mối quan hệ qua lại, tác động lẫn nhau; giai đoạn trước là tiền đề cần thiết cho việc thực hiện nhiệm vụ của giai đoạn sau, giai đoạn sau kiểm tra giai đoạn trước. Quyết định khởi tố vụ án là cơ sở pháp lý đầu tiên để thực hiện các hoạt động điều tra. Khi chưa có quyết định khởi tố vụ án thì không được tiến hành các hoạt động điều tra cũng như áp dụng các biện pháp ngăn chặn. Quyết định khởi tố vụ án làm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng hình sự giữa cơ quan có thẩm quyền, người tiến hành tố tụng với người tham gia tố tụng [8, tr.
Khởi tố vụ án hình sự là một giai đoạn độc lập của tố tụng hình sự, bắt đầu từ việc tiếp nhận thông tin về tội phạm hoặc phát hiện dấu hiệu tội phạm và kết thúc bằng quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự. Kết thúc giai đoạn khởi tố vụ án hình sự có thể là sự khởi đầu cho các giai đoạn tố tụng khác hoặc chấm dứt quá trình tố tụng. Vì thế, việc chứng minh khởi tố vụ án hình sự là một giai đoạn vô cùng quan trọng trong hoạt động tố tụng hình sự để quyết định việc đưa vụ án ra khởi tố hay không khởi tố. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Căn cứ để khởi tố vụ án hình sự có thể là sự hiện diện dấu hiệu của tội phạm.
Các dấu hiệu này có thể chưa phản ánh đầy đủ về tội phạm đã xảy ra nhưng là căn cứ để khẳng định rằng cần phải tiến hành tố tụng để làm rõ vụ việc. Trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự, tuy chưa đặt ra yêu cầu cần phải xác định chính xác và đầy đủ, nhưng phải sơ bộ định tội danh phù hợp với tội phạm. Để tạo điều kiện thuận lợi cho công tác khởi tố các vụ án hình sự, bên cạnh việc quy định về các căn cứ khởi tố vụ án hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự còn quy định về các căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự (Bộ luật tố tụng hình sự 2003) như sau: Không được khởi tố vụ án hình sự khi có một trong những căn cứ sau đây: 1. Không có sự việc phạm tội; 2.
Hành vi không cấu thành tội phạm; 3. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự; 4. Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật; 5. Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; 6.
Tội phạm đã được đại xá; 7. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác [30, Điều 107]. Nghiên cứu các sách báo pháp lý về tố tụng hình sự cho thấy, không có quan điểm khoa học nào nêu lên khái niệm này. Vì vậy, căn cứ vào quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và thực tiễn xét xử, dưới góc độ khoa học, theo chúng tôi, khái niệm đang nghiên cứu được định nghĩa như sau: Những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự là sự hiện diện dấu hiệu không phạm tội và khi có một trong những căn cứ không được khởi tố vụ 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com án hình sự thì cơ quan có thẩm quyền khởi tố không được khởi tố vụ án hình sự, nếu vụ án đã khởi tố thì phải hủy quyết định khởi tố đó.
Như vậy, những quy định về căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan khởi tố trong việc kết thúc giai đoạn khởi tố vụ án hình sự khi vụ án đó không có dấu hiệu phạm tội. Đối ngược với những căn cứ khởi tố vụ án hình sự là sự hiện diện của dấu hiệu phạm tội thì những căn cứ không khởi tố vụ án hình sự là việc đưa ra những căn cứ thể hiện những dấu hiệu không phạm tội trong vụ án. Việc đưa ra những căn cứ không khởi tố vụ án hình sự này tạo điều kiện thuận lợi cho những cơ quan tiến hành tố tụng có cơ sở pháp lý để dừng việc điều tra, khởi tố, xét xử một vụ án hình sự khi mà vụ án này không có sự hiện diện của dấu hiệu phạm tội. Dấu hiệu phạm tội là dấu hiệu của hành vi gây nguy hiểm cho xã hội và những kẻ có hành vi gây nguy hiểm cho xã hội thì được coi là tội phạm.
Vì vậy ở góc độ pháp lý ta có thể hiểu những căn cứ không khởi tố vụ án hình sự là sự hiện diện của dấu hiệu không có tội phạm ở trong một vụ án hình sự. Như chúng ta đã biết, theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 thì: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa [26]. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Do đó, những hành vi của cá nhân có năng lực trách nhiệm hình sự không gây nguy hiểm cho xã hội hay không còn gây nguy hiểm cho xã hội sẽ là dấu hiệu, căn cứ để không khởi tố vụ án hình sự 1. Bản chất pháp lý của những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự Xuất phát từ nhận thức nêu trên về giai đoạn khởi tố vụ án, những căn cứ khởi tố và không khởi tố vụ án hình sự, chúng ta có thể nhận thấy, bản chất pháp lý của giai đoạn này là ở chỗ: Với tính chất là một giai đoạn độc lập và đầu tiên của quá trình tố tụng hình sự, giai đoạn khởi tố vụ án hình sự có chức năng thực hiện các nhiệm vụ cụ thể để xác định các tiền đề pháp luật về nội dung (vật chất) và về pháp luật về hình thức (tố tụng) của việc điều tra vụ án hình sự; thời điểm của giai đoạn này được bắt đầu từ khi nhận được những thông tin đầu tiên về việc thực hiện hành vi phạm tội và kết thúc bằng quyết định về việc khởi tố (hoặc không khởi tố) vụ án hình sự có liên quan đến hành vi đó.
Như vậy, bản chất pháp lý của những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự là những dấu hiệu để cơ quan tiến hành tố tụng kết thúc giai đoạn khởi tố và chấm dứt quá trình tố tụng, tức là khi xét thấy vụ án thỏa mãn một trong các căn cứ không khởi tố vụ án hình sự thì cơ quan tiến hành tố tụng sẽ dừng việc chứng minh khởi tố và không đưa vụ án đó ra xét xử. Với bản chất pháp lý đặc trưng này thì những căn cứ không khởi tố vụ án hình sự là lý do, căn cứ xác đáng cho các cơ quan tiến hành tố tụng đưa ra để kết thúc vụ án hình sự ở các giai đoạn khác nhau của quá trình tố tụng. Những dấu hiệu của việc không phạm tội này có thể xuất hiện ngay khi mới bắt đầu vào vụ án (xét thấy người gây hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự) hoặc xuất hiện ở những phút cuối trong giai đoạn tố tụng (người phạm tội chết trong quá trình tố tụng) nhưng chỉ cẩn khi 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com xuất hiện những căn cứ này thì nó sẽ là cơ sở pháp lý để cơ quan tiến hành tố tụng dừng ngay việc khởi tố vụ án hình sự. Việc ban hành quy định về những căn cứ không khởi tố vụ án hình sự đã tạo nên một cơ sở pháp lý quan trọng để các cơ quan tiến hành tố tụng đưa ra các căn cứ pháp lý để giải quyết các vụ án hình sự không có sự hiện diện dấu hiệu phạm tội, nhanh chóng kép hồ sơ của những vụ án mà không có tội phạm hay không còn tội phạm.
Những căn cứ này không chỉ giúp cho các cơ quan tố tụng dễ dàng hơn khi đưa ra kết luận có khởi tố vụ án hình sự hay không mà nó còn giúp cho Nhà nước tiết kiệm được kinh phí, thời gian mà vẫn đảm bảo sự quản lý của Nhà nước với xã hội. PHÂN BIỆT NHỮNG CĂN CỨ KHÔNG ĐƯỢC KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ VỚI NHỮNG KHÁI NIỆM CÓ LIÊN QUAN KHÁC TRONG LUẬT HÌNH SỰ VÀ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Phân biệt những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự với căn cứ khởi tố vụ án hình sự Căn cứ để khởi tố vụ vụ án hình sự và căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự đều là sự hiện diện của dấu hiệu để từ đó cơ quan tiến hành tố tụng và kết thúc giai đoạn khởi tố vụ án. Tuy nhiên kết quả của những căn cứ để không khởi tố vụ án hình sự là việc chấm dứt quá trình tố tụng và kết quả của những căn cứ khởi tố vụ án hình sự là sự khởi đầu cho các giai đoạn tố tụng khác.