Nguyên Tắc Cân Bằng Lợi Ích Giữa Tác Giả, Chủ Sở Hữu Quyền Tác Giả và Công Chúng

Bài viết phân tích nguyên tắc cân bằng lợi ích giữa tác giả quyền tác giả và công chúng, nhấn mạnh sự công bằng trong việc sử dụng tác phẩm.

Chuyên ngành

Luật Dân Sự

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Chuyên Ngành

2022

114
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

1. CHƯƠNG 1: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ NGUYÊN TẮC CÂN BẰNG ĐỐI TRỌNG VỀ LỢI ÍCH GIỮA TÁC GIẢ, CHỦ SỞ HỮU QUYỀN TÁC GIẢ VÀ CÔNG CHÚNG

1.1. Mối tương quan về lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng

1.2. Khái niệm và đặc điểm quyền tác giả

1.3. Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả – chủ thể của quyền tác giả

1.4. Quyền nhân thân và quyền tài sản – hai quyền luật định thể hiện lợi ích của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả

1.5. Công chúng và lợi ích của công chúng trong khía cạnh quyền tác giả

1.6. Sự mâu thuẫn trong quan hệ về lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng

1.7. Tổng quan về nguyên tắc cân bằng đối trọng về lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng

1.8. Sơ lược lịch sử hình thành của nguyên tắc

1.9. Khái niệm và ý nghĩa của nguyên tắc

1.10. Quy định của pháp luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam trong việc cụ thể hóa nguyên tắc

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: VẤN ĐỀ THỰC THI NGUYÊN TẮC CÂN BẰNG ĐỐI TRỌNG VỀ LỢI ÍCH GIỮA TÁC GIẢ, CHỦ SỞ HỮU QUYỀN TÁC GIẢ VÀ CÔNG CHÚNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ GÓP PHẦN HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT

2.1. Thực thi nguyên tắc cân bằng đối trọng về lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng thông qua các trường hợp sử dụng hợp pháp tác phẩm

2.2. Tiêu chí xác định việc sử dụng hợp pháp tác phẩm

2.3. Một số trường hợp minh họa cho việc thực thi nguyên tắc nhằm cân bằng lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng

2.4. Một số kiến nghị góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật nhằm hướng đến việc thực thi có hiệu quả nguyên tắc trên

2.5. Hoàn thiện quy định về các điều kiện chung cần đáp ứng đối với các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao tại Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019

2.6. Hoàn thiện quy định về trường hợp sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu tại điểm đ khoản 1 Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019 và khoản 2 Điều 22 Nghị định số 22/2018/NĐ-CP

2.7. Hoàn thiện quy định về trường hợp trích dẫn hợp lý tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để bình luận hoặc minh họa trong tác phẩm của mình tại điểm b khoản 1 Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019

2.8. Bổ sung ngoại lệ đối với quy định về hành vi hủy bỏ hoặc làm vô hiệu các biện pháp kỹ thuật do chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của mình tại khoản 12 Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Cân Bằng Lợi Ích Giữa Tác Giả và Công Chúng

Cân bằng lợi ích giữa tác giả và công chúng là một vấn đề quan trọng trong lĩnh vực quyền tác giả. Khi một tác phẩm được tạo ra, nó không chỉ mang lại lợi ích cho tác giả mà còn cho công chúng. Việc bảo vệ quyền lợi của tác giả trong khi vẫn đảm bảo quyền lợi của công chúng là một thách thức lớn. Nguyên tắc này không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi của tác giả mà còn tạo điều kiện cho công chúng tiếp cận các tác phẩm văn học, nghệ thuật.

1.1. Khái Niệm Cân Bằng Lợi Ích

Cân bằng lợi ích giữa tác giả và công chúng đề cập đến việc tìm kiếm sự hài hòa giữa quyền lợi của tác giả và quyền lợi của công chúng. Điều này bao gồm việc bảo vệ quyền tác giả trong khi vẫn cho phép công chúng tiếp cận và sử dụng tác phẩm một cách hợp pháp.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Nguyên Tắc Cân Bằng

Nguyên tắc cân bằng lợi ích giúp duy trì sự sáng tạo trong xã hội. Nếu quyền lợi của tác giả không được bảo vệ, họ sẽ không có động lực để sáng tạo. Ngược lại, nếu công chúng không được phép tiếp cận tác phẩm, sự phát triển văn hóa sẽ bị hạn chế.

II. Vấn Đề Thách Thức Trong Cân Bằng Lợi Ích

Mặc dù nguyên tắc cân bằng lợi ích giữa tác giả và công chúng rất quan trọng, nhưng thực tế cho thấy có nhiều thách thức trong việc thực hiện nguyên tắc này. Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ và internet đã tạo ra nhiều vấn đề mới trong việc bảo vệ quyền tác giả.

2.1. Sự Mâu Thuẫn Giữa Quyền Lợi

Sự mâu thuẫn giữa quyền lợi của tác giả và công chúng thường xảy ra khi tác phẩm được sử dụng mà không có sự đồng ý của tác giả. Điều này dẫn đến việc tác giả không nhận được thù lao xứng đáng cho công sức của mình.

2.2. Thách Thức Từ Công Nghệ

Công nghệ số đã làm cho việc sao chép và phân phối tác phẩm trở nên dễ dàng hơn. Điều này tạo ra thách thức lớn trong việc bảo vệ quyền tác giả và đảm bảo rằng công chúng vẫn có thể tiếp cận tác phẩm một cách hợp pháp.

III. Phương Pháp Cân Bằng Lợi Ích Giữa Tác Giả và Công Chúng

Để đạt được sự cân bằng lợi ích giữa tác giả và công chúng, cần có những phương pháp và quy định pháp lý rõ ràng. Các phương pháp này không chỉ bảo vệ quyền lợi của tác giả mà còn tạo điều kiện cho công chúng tiếp cận tác phẩm.

3.1. Quy Định Pháp Luật Về Quyền Tác Giả

Các quy định pháp luật cần được cập nhật để phù hợp với thực tiễn hiện tại. Điều này bao gồm việc xác định rõ ràng các quyền của tác giả và quyền của công chúng trong việc sử dụng tác phẩm.

3.2. Tạo Điều Kiện Cho Sự Sáng Tạo

Cần có các chính sách khuyến khích sự sáng tạo, như việc cấp phép sử dụng tác phẩm một cách hợp pháp và công bằng. Điều này sẽ giúp tác giả có động lực để tiếp tục sáng tạo.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Nguyên Tắc Cân Bằng

Nguyên tắc cân bằng lợi ích giữa tác giả và công chúng đã được áp dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Việc áp dụng này không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi của tác giả mà còn tạo điều kiện cho công chúng tiếp cận các tác phẩm.

4.1. Các Trường Hợp Sử Dụng Hợp Pháp

Có nhiều trường hợp mà công chúng có thể sử dụng tác phẩm mà không cần xin phép, như trong trường hợp trích dẫn hợp lý. Điều này giúp đảm bảo rằng công chúng vẫn có thể tiếp cận thông tin mà không vi phạm quyền tác giả.

4.2. Kết Quả Nghiên Cứu Về Cân Bằng Lợi Ích

Nghiên cứu cho thấy rằng việc áp dụng nguyên tắc cân bằng lợi ích đã giúp tăng cường sự sáng tạo và phát triển văn hóa. Các tác giả có động lực hơn khi biết rằng quyền lợi của họ được bảo vệ.

V. Kết Luận Về Tương Lai Của Cân Bằng Lợi Ích

Tương lai của nguyên tắc cân bằng lợi ích giữa tác giả và công chúng phụ thuộc vào sự phát triển của pháp luật và công nghệ. Cần có những điều chỉnh kịp thời để đảm bảo rằng cả hai bên đều được bảo vệ quyền lợi.

5.1. Định Hướng Phát Triển Pháp Luật

Cần có những định hướng phát triển pháp luật rõ ràng để bảo vệ quyền lợi của tác giả trong bối cảnh công nghệ số. Điều này bao gồm việc cập nhật các quy định về quyền tác giả.

5.2. Tương Lai Của Quyền Tác Giả

Tương lai của quyền tác giả sẽ phụ thuộc vào khả năng thích ứng của pháp luật với sự phát triển của công nghệ. Cần có sự hợp tác giữa các bên liên quan để đạt được sự cân bằng lợi ích.

22/07/2025
Nguyên tắc cân bằng đối trọng về lợi ích giữa tác giả chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ NGUYÊN TẮC CÂN BẰNG ĐỐI TRỌNG VỀ LỢI ÍCH GIỮA TÁC GIẢ, CHỦ SỞ HỮU QUYỀN TÁC GIẢ VÀ CÔNG CHÚNG 1. Mối tương quan về lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng 1. Khái niệm và đặc điểm quyền tác giả Quyền tác giả là một trong các bộ phận của quyền SHTT, và việc tạo ra khung pháp lý cho vấn đề này đã được thể hiện trong các điều ước quốc tế cũng như pháp luật của mỗi quốc gia. Ở Việt Nam, văn bản pháp luật đầu tiên quy định cụ thể về quyền tác giả là Nghị định số 142/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng (hiện nay gọi là Chính phủ) được ban hành vào ngày 14 tháng 11 năm 1986 với những nội dung cơ bản như: Tác giả và đối tượng quyền tác giả; nội dung của quyền tác giả; công bố và sử dụng tác phẩm; xử lý vi phạm.

Và sau đó là sự lần lượt ra đời của Pháp lệnh bảo hộ quyền tác giả số 38-L/CTN ngày 02 tháng 12 năm 1994 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội; Bộ luật Dân sự số 44-L/CTN ngày 28 tháng 10 năm 1995 của Quốc hội (BLDS 1995); Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005 của Quốc hội; Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019 và một số văn bản pháp luật có liên quan. Có quan điểm cho rằng, việc ban hành Nghị định quy định quyền tác giả ngày 14/11/1986 đã bước đầu đặt cơ sở cho việc xây dựng ý thức tôn trọng pháp luật về quyền tác giả; bước đầu mở rộng quan hệ quốc tế trong lĩnh vực quyền tác giả, được nhiều tổ chức quốc tế và khu vực quan tâm giúp đỡ, phối hợp cùng Việt Nam tổ chức các cuộc hội thảo về quyền tác giả, quyền kề cận; giúp ta đào tạo cán bộ2. Có thể thấy, việc xây dựng và hoàn thiện những quy định về lĩnh vực quyền tác giả ở mỗi thời kỳ đều mang những ý nghĩa thiết thực, và trong thời kỳ hội nhập quốc tế như hiện nay thì lại mang tính cấp thiết hơn bao giờ hết. Liên quan đến khái niệm, theo quy định của pháp luật hiện hành tại khoản 2 Điều 4 Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019 đã nêu quyền tác giả là “quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu”.

Qua khái niệm trên, có thể thấy được quyền tác giả sẽ có phạm vi đó là: (i) Quyền đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc (ii) quyền đối với tác phẩm do mình sở hữu. Thông qua việc đưa ra khái niệm, chúng ta đã phần nào có cái nhìn bao quát về quyền tác giả, và tiếp theo chúng ta cùng làm rõ một số đặc điểm sau đây: 2 Thượng Thuận (1998), Thường thức về quyền tác giả, Nxb. Thanh Niên, tr. 12 Thứ nhất, quyền tác giả bảo hộ hình thức sáng tạo.

Theo đó, chỉ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định thì quyền tác giả mới phát sinh. Còn ý tưởng sẽ không được bảo hộ quyền tác giả bởi vẫn còn nằm trong suy nghĩ, nhận thức của con người nên dễ bị thay đổi theo thời gian, không gian. Ví dụ, một nhà thơ đang ấp ủ ý tưởng sáng tác một bài thơ nhằm ca ngợi sự hy sinh thầm lặng của những lực lượng tuyến đầu chống dịch Covid-19 ở Việt Nam, thì bài thơ sẽ được bảo hộ quyền tác giả khi nhà thơ thể hiện ý tưởng đó dưới một hình thức vật chất nhất định, chẳng hạn như viết trên giấy. Khi quyền tác giả bảo hộ hình thức sáng tạo thì việc các tác giả trùng ý tưởng sáng tạo là điều hoàn toàn có thể xảy ra.

Do đó, những ý tưởng có thể tương tự nhau nhưng nếu khác nhau về cách thức thể hiện, sự sắp xếp ngôn từ để biểu đạt ý tưởng thì sẽ tạo nên những tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả3. Với cùng một ý tưởng, nhưng mỗi tác giả bằng tri thức, sự trải nghiệm của bản thân. kết hợp với cách thức thể hiện riêng thì sẽ tạo ra những tác phẩm mang đậm dấu ấn cá nhân và được bảo hộ quyền tác giả. Thứ hai, quyền tác giả bảo hộ theo cơ chế tự động.

Theo đó, tại khoản 1 Điều 6 Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019, thì quyền tác giả phát sinh khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định mà không phụ thuộc vào thủ tục đã đăng ký hay chưa đăng ký quyền tác giả. Và việc nộp đơn để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả sẽ không phải là thủ tục bắt buộc để được hưởng quyền tác giả4 và điều này đã thể hiện pháp luật SHTT Việt Nam bảo hộ quyền tác giả theo cơ chế tự động. Việt Nam là thành viên của Công ước Berne 1886, nên việc ghi nhận cơ chế bảo hộ tự động quyền tác giả đã thể hiện sự cụ thể hóa pháp luật quốc tế vào pháp luật trong nước. Có thể thấy, trong trường hợp không thực hiện thủ tục đăng ký, tác giả có thể gặp khó khăn trong việc chứng minh quyền của mình đối với tác phẩm5.

Còn khi đã đăng ký và được cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, thì tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả sẽ không có nghĩa vụ chứng minh quyền tác giả thuộc về mình khi có tranh chấp, trừ khi có chứng cứ ngược lại 6. Ngoài ra, một lợi ích mà việc đăng ký quyền tác giả mang lại đó là tạo sự thuận lợi cho hoạt động chuyển giao quyền tác giả. Cụ thể, việc đăng ký còn là một sự đảm 3 Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (2021), Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ, Nguyễn Hồ Bích Hằng và Nguyễn Xuân Quang, Nxb.

Hồng Đức, tr. 4 Xem thêm khoản 2 Điều 49 Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019. 5 Nguyễn Hồ Bích Hằng, Nguyễn Ngọc Hồng Phượng và Nguyễn Phương Thảo (2019), Sách tình huống (Bình luận bản án) Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam, Nxb. Hồng Đức, tr.

6 Xem thêm khoản 3 Điều 49 Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019. 13 bảo về mặt hình thức cho các hoạt động chuyển giao quyền giữa chủ sở hữu với các cá nhân, tổ chức khác7. Bởi Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả là cơ sở đảm bảo về mặt hình thức, tạo lòng tin để các bên tiến đến việc giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả hoặc chuyển quyền sử dụng quyền tác giả. Thứ ba, quyền tác giả bảo hộ tác phẩm có tính nguyên gốc.

Tính nguyên gốc của tác phẩm là một trong những đặc điểm quan trọng của quyền tác giả8. Cụ thể, tác phẩm được tạo ra phải do tác giả trực tiếp sáng tạo bằng lao động trí tuệ của mình mà không sao chép từ tác phẩm của người khác9. Như chúng ta đã phân tích về vấn đề cùng ý tưởng sáng tạo nhưng với cách thức thể hiện riêng của từng tác giả sẽ có thể tạo ra những tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả, và tính nguyên gốc sẽ được bộc lộ qua cách thức thể hiện riêng biệt ấy. Có thể nói, tính nguyên gốc cũng là một trong các điều kiện quan trọng để xem xét một tác phẩm có được bảo hộ quyền tác giả hay không trên thực tế.

Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả – chủ thể của quyền tác giả Về chủ thể có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả, tại khoản 1 Điều 13 Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019 có quy định “tổ chức, cá nhân có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả gồm người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm và chủ sở hữu quyền tác giả”. Thông qua quy định này, chúng ta có thể suy ra chủ thể của quyền tác giả sẽ bao gồm: Tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả. Tác giả Quy định tại khoản 1 Điều 13 Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019 đã nêu một chi tiết có liên quan đến tác giả đó là “người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm”. Và Nghị định số 22/2018/NĐ-CP ngày 23 tháng 02 năm 2018 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2009 về quyền tác giả, quyền liên quan (Nghị định số 22/2018/NĐ-CP) cũng đưa ra khái niệm tác giả, cụ thể tác giả là “người trực tiếp sáng tạo ra một phần hoặc toàn bộ tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học” (khoản 1 Điều 6).

Từ khái niệm trên, chúng ta có thể rút ra hai ý chính về tác giả: (i) Là người trực tiếp tham gia lao động trí tuệ để sáng tạo ra tác phẩm và (ii) về định lượng của tác phẩm được tạo ra là một phần hoặc toàn bộ tác 7 Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, tlđd (3), tr. 8 Nguyễn Thái Cường (2020), Bình luận bản án Quyền tác giả, Nxb. Hồng Đức, tr.

9 Khoản 3 Điều 14 Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019. Yếu tố “trực tiếp sáng tạo” đã thể hiện tính nguyên gốc của tác phẩm, một trong những điều kiện để tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả. Có bao giờ chúng nghĩ rằng một ngày nào đó trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra tác phẩm bên cạnh những tác phẩm do con người tạo ra? Vâng, với sự phát triển không ngừng của công nghệ số thì điều này hoàn toàn có thể xảy ra. Có thể kể đến vào năm 2016, một cuốn tiểu thuyết do công nghệ trí tuệ nhân tạo viết ra đã lọt qua vòng đầu của giải thưởng văn chương quốc gia ở Nhật Bản10.

Hay robot Aida tạo ra bức chân dung tự họa đầu tiên vào năm 201911. Trí tuệ nhân tạo làm ra tác phẩm dẫn đến việc bảo hộ tác phẩm này như thế nào cũng như việc xác định tác giả là ai đã phát sinh nhiều vấn đề cần phải bàn luận. Có lẽ, để có được quy định phù hợp điều chỉnh cho vấn đề này thì cần sự tập trung nghiên cứu cũng như sự cân nhắc kỹ lưỡng từ các nhà làm luật. Để một tác phẩm được ra đời là cả một quá trình lao động trí tuệ tốn nhiều công sức, cho nên việc các tác giả kết hợp với nhau cùng trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm là một giải pháp tối ưu giúp rút ngắn thời gian cũng như nâng cao chất lượng tác phẩm.

Và đó chính là trường hợp tác phẩm được tạo ra bởi đồng tác giả.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ