Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Luật Dân sự với đề tài “Nguyên tắc cân bằng đối trọng về lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng” do sinh viên Nguyễn Thanh Hãi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Thái Cường tại Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (tháng 6/2022).

Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn

Trong xã hội hiện đại, nhu cầu tiếp cận các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học và các chương trình công nghệ để phục vụ nghiên cứu, học tập, giải trí ngày càng gia tăng. Khi một tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả, mối quan hệ pháp lý và lợi ích kinh tế - tinh thần giữa hai nhóm chủ thể chính lập tức phát sinh:

  • Nhóm chủ thể sáng tạo và sở hữu (tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả) với mong muốn độc quyền khai thác để thu hồi chi phí đầu tư và hưởng lợi nhuận.
  • Nhóm chủ thể tiếp cận (công chúng và xã hội) với nhu cầu thụ hưởng các giá trị văn hóa, tri thức để phục vụ mục đích giáo dục, nghiên cứu khoa học và phát triển xã hội.

Nếu pháp luật trao quá nhiều đặc quyền độc quyền cho tác giả và chủ sở hữu, công chúng sẽ gặp rào cản lớn khi tiếp cận tri thức. Ngược lại, nếu cho phép công chúng tự do khai thác mà không có cơ chế kiểm soát, quyền lợi hợp pháp của tác giả sẽ bị xâm phạm, làm suy giảm động lực sáng tạo. Do đó, "nguyên tắc cân bằng đối trọng về lợi ích" giữ vai trò nền tảng để Nhà nước thiết lập các quy định pháp luật điều hòa quyền lợi giữa các bên.

Đặc biệt, bối cảnh Việt Nam hội nhập quốc tế sâu rộng thông qua việc gia nhập Công ước Berne 1886, Hiệp định TRIPS 1994, Hiệp ước WCT 1996 cùng các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - EU (EVFTA) đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nội luật hóa các chuẩn mực quốc tế về giới hạn quyền tác giả. Đồng thời, tại thời điểm tác giả hoàn thành khóa luận (tháng 6/2022), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ vừa được Quốc hội thông qua ngày 16/6/2022 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2023), đòi hỏi phải có những nghiên cứu chuyên sâu làm cơ sở lý luận và thực tiễn cho quá trình áp dụng pháp luật.

Mục tiêu nghiên cứu

  1. Làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản về mối quan hệ lợi ích và nguyên tắc cân bằng đối trọng lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng.
  2. Phân tích, đánh giá hệ thống quy định của pháp luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam hiện hành trong việc cụ thể hóa nguyên tắc này.
  3. Khảo sát thực tiễn áp dụng pháp luật và hoạt động xét xử của Tòa án trong các tranh chấp điển hình liên quan đến việc sử dụng hợp pháp tác phẩm.
  4. Đề xuất các kiến nghị lập pháp cụ thể nhằm hoàn thiện khung pháp luật sở hữu trí tuệ tại Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Nguyên tắc cân bằng đối trọng về lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng dưới góc độ lý luận, các quy phạm pháp luật thực định của Việt Nam và thực tiễn xét xử của Tòa án.
  • Phạm vi không gian và tài liệu: Tập trung vào các quy định của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009 và 2019), Nghị định số 22/2018/NĐ-CP, Bộ luật Dân sự năm 2015, có đối chiếu với các điều ước quốc tế (Công ước Berne, TRIPS, WCT, CPTPP, EVFTA) và pháp luật của một số quốc gia (Hoa Kỳ, Pháp, Nhật Bản, Thụy Điển, Trung Quốc).
  • Phạm vi thời gian: Đề tài được thực hiện từ ngày 14/3/2022 đến ngày 24/6/2022.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung pháp lý và cơ sở lý luận

Khóa luận vận dụng hệ thống lý luận về quyền con người trong việc tiếp cận tri thức (Điều 40 Hiến pháp năm 2013), bản chất độc quyền tương đối của quyền sở hữu trí tuệ, cùng các văn bản quy phạm pháp luật:

  • Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 (sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019).
  • Nghị định số 22/2018/NĐ-CP ngày 23/02/2018 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật SHTT về quyền tác giả, quyền liên quan.
  • Bộ luật Dân sự năm 1995 và Bộ luật Dân sự năm 2015.
  • Các điều ước quốc tế: Công ước Berne 1886, Hiệp định TRIPS 1994, Hiệp ước WCT 1996, CPTPP và EVFTA.

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả kết hợp bốn phương pháp nghiên cứu chuyên ngành luật học:

  1. Phương pháp lịch sử: Phân tích quá trình hình thành khung pháp lý bảo hộ quyền tác giả tại Việt Nam từ Nghị định số 142/HĐBT (14/11/1986), Pháp lệnh Bảo hộ quyền tác giả năm 1994 đến các giai đoạn phát triển của Luật Sở hữu trí tuệ.
  2. Phương pháp phân tích - tổng hợp: Mổ xẻ các quy định tại Điều 7 (giới hạn quyền), Điều 8 (chính sách của Nhà nước), Điều 15 (đối tượng không bảo hộ) và Điều 25 (ngoại lệ không phải xin phép, không phải trả tiền thù lao).
  3. Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu các điều kiện giới hạn quyền tác giả của Việt Nam với các học thuyết và điều luật cụ thể của Hoa Kỳ (Điều 107, 108 Title 17 U.S. Code), Pháp (Điều L122-5-8 Code de la propriété intellectuelle), Thụy Điển (Điều 14, 16, 22), Nhật Bản (Điều 30, 32) và Trung Quốc (Điều 24).
  4. Phương pháp bình luận án: Xem xét thực tiễn áp dụng pháp luật thông qua các bản án tranh chấp quyền tác giả đã được xét xử.

Nguồn dữ liệu nghiên cứu

  • Các văn bản quy phạm pháp luật và án lệ, bản án thực tế.
  • Giáo trình và tài liệu chuyên khảo: Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ (Trường ĐH Luật TP.HCM, 2021), Sách Bình luận bản án Quyền tác giả (TS. Nguyễn Thái Cường, 2020), Sách tình huống Luật SHTT Việt Nam (2019).
  • Các công trình nghiên cứu kế thừa: Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Võ Hoàng Yến (2002), Dương Thị Hải Lê (2007); Luận văn thạc sĩ của Đặng Hữu Tuấn (2018), Nguyễn Thị Tuyết Nga (2012); Luận án tiến sĩ của Võ Trung Hậu (2020).

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ NGUYÊN TẮC CÂN BẰNG ĐỐI TRỌNG VỀ LỢI ÍCH GIỮA TÁC GIẢ, CHỦ SỞ HỮU QUYỀN TÁC GIẢ VÀ CÔNG CHÚNG

Chương này làm sáng tỏ nền tảng lý luận và cách thức pháp luật thực định Việt Nam ghi nhận sự cân bằng lợi ích:

1. Mối tương quan về lợi ích giữa các chủ thể quyền tác giả và công chúng

  • Khái niệm và đặc điểm: Quyền tác giả bảo hộ hình thức thể hiện của ý tưởng chứ không bảo hộ bản thân ý tưởng; quyền phát sinh tự động theo cơ chế không bắt buộc phải đăng ký (khoản 1 Điều 6 Luật SHTT); tác phẩm phải có tính nguyên gốc do tác giả trực tiếp sáng tạo.
  • Phân định chủ thể:
    • Tác giả: Cá nhân trực tiếp sáng tạo một phần hoặc toàn bộ tác phẩm (Điều 6 Nghị định 22/2018/NĐ-CP). Người chỉ hỗ trợ, góp ý kiến hoặc cung cấp tư liệu, phương tiện kỹ thuật không được công nhận là tác giả hay đồng tác giả.
    • Chủ sở hữu quyền tác giả: Tổ chức, cá nhân nắm giữ quyền tài sản và quyền công bố tác phẩm (Điều 36 Luật SHTT). Các trường hợp xác định chủ sở hữu gồm: tác giả tự đầu tư; các đồng tác giả; tổ chức giao nhiệm vụ hoặc cá nhân/tổ chức giao kết hợp đồng sáng tạo (Điều 39); người thừa kế (Điều 40); người nhận chuyển giao quyền (Điều 41); và Nhà nước (Điều 42 - đối với tác phẩm khuyết danh, tác phẩm không có người thừa kế hoặc được chuyển giao/hiến tặng cho Nhà nước như trường hợp bài hát Tiến quân ca).
  • Quyền nhân thân và Quyền tài sản:
    • Quyền nhân thân không gắn với tài sản (đặt tên, đứng tên, bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm) thuộc độc quyền bất khả chuyển nhượng của tác giả.
    • Quyền nhân thân gắn với tài sản (công bố tác phẩm) và quyền tài sản (làm tác phẩm phái sinh, biểu diễn, sao chép, phân phối, truyền đạt tác phẩm) có thể chuyển giao, thừa kế và là đối tượng chính để cân bằng với quyền tiếp cận của công chúng.

2. Sự cụ thể hóa nguyên tắc trong Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam

Tác giả phân tích 4 nhóm chế định thể hiện sự cân bằng:

  • Giới hạn quyền SHTT (Điều 7): Xác định tính độc quyền chỉ mang tính tương đối; việc thực hiện quyền không được xâm phạm lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng; Nhà nước có quyền cấm, hạn chế hoặc buộc chuyển giao quyền sử dụng vì mục tiêu quốc phòng, an ninh, dân sinh.
  • Chính sách của Nhà nước (Điều 8): Ghi nhận bảo hộ trên cơ sở hài hòa lợi ích; loại trừ các tác phẩm có nội dung trái đạo đức xã hội, trật tự công cộng, phương hại quốc phòng; cơ chế hỗ trợ tài chính để mua bản quyền phổ biến các tác phẩm có giá trị tư tưởng, khoa học phục vụ cộng đồng.
  • Đối tượng loại trừ không thuộc phạm vi bảo hộ (Điều 15): Tin tức thời sự thuần túy đưa tin; văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, tư pháp và bản dịch chính thức; quy trình, hệ thống, phương pháp hoạt động, khái niệm, nguyên lý, số liệu.
  • Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao (Điều 25):
    • Tự sao chép một bản: Giới hạn cho nghiên cứu khoa học, giảng dạy cá nhân không mang tính thương mại (điểm a khoản 1).
    • Sao chép lưu trữ thư viện: Giới hạn 01 bản nhằm mục đích nghiên cứu, nghiêm cấm phân phối bản sao tới công chúng (điểm đ khoản 1).
    • Trích dẫn hợp lý: Phục vụ bình luận, minh họa (điểm b); viết báo, phát thanh, truyền hình (điểm c); giảng dạy trong nhà trường (điểm d) với điều kiện không làm sai ý tác giả.
    • Các trường hợp khác: Biểu diễn nghệ thuật trong sinh hoạt văn hóa tuyên truyền cổ động không thu tiền (điểm e); ghi âm, ghi hình trực tiếp buổi biểu diễn để đưa tin thời sự/giảng dạy (điểm g); chụp ảnh, truyền hình tác phẩm tạo hình, kiến trúc nơi công cộng (điểm h).
    • Đề cập các khía cạnh pháp lý mới: Học thuyết "hết quyền" (cạn quyền) và cơ chế "nhập khẩu song song".

CHƯƠNG 2: VẤN ĐỀ THỰC THI NGUYÊN TẮC CÂN BẰNG ĐỐI TRỌNG VỀ LỢI ÍCH GIỮA TÁC GIẢ, CHỦ SỞ HỮU QUYỀN TÁC GIẢ VÀ CÔNG CHÚNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ GÓP PHẦN HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT

Chương 2 đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra những khoảng trống pháp lý, từ đó kiến nghị sửa đổi:

1. Thực thi nguyên tắc qua các trường hợp sử dụng hợp pháp

  • Đánh giá các tiêu chí xác định hành vi sử dụng hợp pháp tác phẩm (Fair Use / Fair Dealing) trên cơ sở thực tiễn xét xử tại Tòa án Việt Nam.
  • Khảo sát các vướng mắc trong việc xác định ranh giới giữa "sao chép phục vụ học tập/nghiên cứu" với hành vi xâm phạm quyền sao chép, cũng như định lượng mức độ thế nào là "trích dẫn hợp lý".

2. Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp sửa đổi cụ thể:

STT Vấn đề bất cập tại Luật SHTT 2005 (sửa đổi 2009, 2019) Nội dung kiến nghị sửa đổi, bổ sung
1 Điều kiện chung tại Điều 25: Chưa có tiêu chí tổng quát để kiểm soát các trường hợp ngoại lệ theo chuẩn mực quốc tế. Bổ sung quy định chuẩn hóa "Phép thử ba bước" (Three-step test) theo Điều 13 Hiệp định TRIPS và Điều 9(2) Công ước Berne: (1) Chỉ áp dụng trong trường hợp đặc biệt; (2) Không làm phương hại đến việc khai thác bình thường tác phẩm; (3) Không gây thiệt hại bất hợp lý đến lợi ích hợp pháp của tác giả/chủ sở hữu.
2 Sao chép lưu trữ thư viện (Điểm đ khoản 1 Điều 25 & khoản 2 Điều 22 NĐ 22/2018): Khống chế cứng nhắc số lượng "01 bản", cấm phân phối bản sao kỹ thuật số, cản trở mô hình thư viện số hiện đại. Cho phép thư viện tạo nhiều hơn 01 bản sao phục vụ mục đích bảo quản, phục chế tài liệu bị hư hỏng; cho phép chia sẻ bản sao kỹ thuật số có kiểm soát trong mạng nội bộ phục vụ người đọc nghiên cứu.
3 Trích dẫn hợp lý tác phẩm (Điểm b khoản 1 Điều 25): Thiếu định lượng và tiêu chí cụ thể để xác định tỷ lệ trích dẫn, dẫn đến khó khăn khi áp dụng thực tế. Bổ sung các tiêu chí định lượng và định tính: Mục đích trích dẫn, bản chất tác phẩm được trích dẫn, dung lượng/tỷ lệ phần trích dẫn so với toàn bộ tác phẩm, và ảnh hưởng của việc trích dẫn đối với thị trường tiềm năng của tác phẩm gốc.
4 Ngoại lệ đối với biện pháp công nghệ (Khoản 12 Điều 28): Nghiêm cấm tuyệt đối hành vi hủy bỏ/làm vô hiệu biện pháp kỹ thuật bảo vệ quyền mà không có ngoại lệ cho người sử dụng hợp pháp. Bổ sung quy định miễn trừ trách nhiệm cho các trường hợp vô hiệu hóa biện pháp kỹ thuật nhằm thực hiện các quyền sử dụng hợp pháp (như thư viện số sao chép bảo quản, trích dẫn phục vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa học hoặc người khuyết tật tiếp cận tác phẩm).

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về mối quan hệ biện chứng giữa độc quyền tác giả và quyền tiếp cận tri thức của công chúng.
  • So sánh sự tương đồng và khác biệt giữa quy định giới hạn quyền tác giả của Việt Nam với các chuẩn mực quốc tế:
Quốc gia / Điều ước Quy định về sao chép cá nhân / học tập Quy định về sao chép thư viện
Việt Nam (Luật SHTT hiện hành lúc nghiên cứu) Giới hạn 01 bản, chỉ cho nghiên cứu khoa học và giảng dạy (chưa bao gồm học tập cá nhân). Tối đa 01 bản để lưu trữ nghiên cứu; không được phân phối bản sao số tới bạn đọc.
Hoa Kỳ (17 U.S. Code §107, §108) Cho phép sao chép cho phê bình, giảng dạy (nhiều bản sao cho lớp học), nghiên cứu, học tập. Cho phép tái bản nhiều bản sao để bảo quản và phục vụ công chúng nghiên cứu.
Nhật Bản (Điều 30) Cho phép sao chép phục vụ mục đích cá nhân hoặc trong phạm vi gia đình. Cho phép thư viện sao chép phục vụ nhu cầu tra cứu theo luật định.
Thụy Điển (Điều 14, 16) Cho phép sao chép tác phẩm phục vụ nghiên cứu và sử dụng cá nhân. Cho phép làm bản sao phân phối cho người dùng và thiết bị đọc an toàn.

Đóng góp của đề tài

  1. Tính kế thừa và cập nhật: Kế thừa các nghiên cứu trước đây (như khóa luận năm 2007 của Dương Thị Hải Lê), bổ sung những phân tích mới dựa trên bối cảnh thực thi các FTA thế hệ mới (CPTPP, EVFTA) và tiến trình sửa đổi Luật SHTT năm 2022.
  2. Giá trị thực tiễn: Làm sáng tỏ các quy định mơ hồ trong thực tiễn áp dụng Điều 25 Luật SHTT và Nghị định 22/2018/NĐ-CP, cung cấp lập luận thuyết phục cho việc nới lỏng cơ chế sao chép giáo dục, thư viện số và quyền tiếp cận công nghệ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do khung thời gian hoàn thành khóa luận kết thúc vào tháng 6/2022, tác giả chủ yếu phân tích hệ thống pháp luật thực định trên nền tảng Luật SHTT năm 2005 (sửa đổi 2009, 2019) và chỉ dừng lại ở mức ghi nhận Luật SHTT sửa đổi 2022 vừa được Quốc hội thông qua ngày 16/6/2022 mà chưa thể đánh giá toàn diện tác động thực thi của Luật mới (có hiệu lực từ ngày 01/01/2023). Số lượng bản án phân tích tập trung vào các tranh chấp truyền thống, chưa mở rộng sang nhiều vụ việc phức tạp trên môi trường số.
  • Hướng nghiên cứu mở rộng:
    • Nghiên cứu thực thi nguyên tắc cân bằng lợi ích trong kỷ nguyên số và không gian mạng.
    • Giải quyết bài toán bảo hộ quyền tác giả đối với các tác phẩm do Trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra hoặc hỗ trợ tạo ra dưới góc độ cân bằng quyền lợi công chúng.
    • Nghiên cứu cơ chế vận hành của học thuyết cạn quyền và nhập khẩu song song đối với các ấn phẩm điện tử và tác phẩm số hóa tại Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên và học viên ngành Luật: Đặc biệt thuộc các chuyên ngành Luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Thương mại quốc tế cần tài liệu nghiên cứu về các ngoại lệ quyền tác giả, chế định Fair Use và các nghĩa vụ điều ước quốc tế.
  • Cơ quan xét xử và tổ chức hành nghề luật: Các Thẩm phán, Hội thẩm, Luật sư tham khảo các luận điểm phân tích khi giải quyết tranh chấp liên quan đến hành vi trích dẫn, sao chép tài liệu học thuật và quyền biểu diễn công cộng.
  • Hệ thống thư viện và cơ sở giáo dục: Tham khảo cơ sở pháp lý để xây dựng quy chế nội bộ về sao chép, số hóa tài liệu nghiên cứu và trích dẫn bài giảng đúng quy định pháp luật.

Câu hỏi thường gặp

1. Nguyên tắc cân bằng đối trọng về lợi ích trong quyền tác giả được hiểu như thế nào?

Nguyên tắc cân bằng đối trọng về lợi ích là tư tưởng pháp lý xuyên suốt, đòi hỏi pháp luật vừa phải công nhận và trao các độc quyền hợp pháp cho tác giả, chủ sở hữu để khuyến khích sáng tạo; vừa phải đặt ra các giới hạn pháp lý (thời hạn bảo hộ, các trường hợp ngoại lệ sử dụng không cần xin phép/trả phí) để công chúng được tiếp cận và thụ hưởng các giá trị tri thức, phục vụ cho sự phát triển văn hóa, giáo dục và khoa học xã hội.

2. Người hỗ trợ, cung cấp tư liệu hoặc máy móc có được công nhận là đồng tác giả không?

Căn cứ khoản 3 Điều 6 Nghị định số 22/2018/NĐ-CP, người hỗ trợ, góp ý kiến hoặc cung cấp tư liệu, công cụ, phương tiện cho người khác sáng tạo tác phẩm không được công nhận là tác giả hoặc đồng tác giả. Chỉ những người trực tiếp tham gia lao động trí tuệ sáng tạo ra tác phẩm mới có tư cách tác giả.

3. Quy định về tự sao chép một bản phục vụ cá nhân trong Luật SHTT 2005 (sửa đổi 2009, 2019) có điểm nghẽn gì so với nhu cầu thực tế?

Điểm a khoản 1 Điều 25 Luật SHTT 2005 (sửa đổi 2009, 2019) chỉ cho phép tự sao chép một bản nhằm mục đích "nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân", hoàn toàn bỏ sót mục đích "học tập của cá nhân" – vốn là nhu cầu thiết yếu hàng ngày của hàng triệu học sinh, sinh viên. Hạn chế này sau đó đã được khắc phục tại Luật SHTT sửa đổi năm 2022.

4. Tác giả khóa luận kiến nghị gì về quy định sao chép tác phẩm lưu trữ trong thư viện?

Tác giả kiến nghị bãi bỏ mức khống chế cứng nhắc "không quá một bản" tại khoản 2 Điều 22 Nghị định 22/2018/NĐ-CP; cho phép thư viện sao chép nhiều bản nhằm mục đích phục chế, bảo quản tài liệu nguy cơ hư hại, đồng thời mở rộng quy chế cho phép chia sẻ bản sao kỹ thuật số có kiểm soát trong hệ thống mạng nội bộ thư viện phục vụ bạn đọc nghiên cứu khoa học.

5. Tại sao các văn bản quy phạm pháp luật và tin tức thời sự thuần túy không được bảo hộ quyền tác giả?

Theo Điều 15 Luật SHTT, các đối tượng này bị loại trừ bảo hộ vì: (1) Văn bản quy phạm pháp luật, hành chính mang tính bắt buộc chung, cần được phổ biến rộng rãi nhất để mọi người dân tiếp cận và thi hành; (2) Tin tức thời sự thuần túy chỉ phản ánh các sự kiện diễn ra thực tế hàng ngày, không chứa đựng dấu ấn sáng tạo cá nhân của tác giả.


Kết luận

Khóa luận của tác giả Nguyễn Thanh Hãi đã làm sáng tỏ nền tảng lý luận và thực trạng pháp luật Việt Nam đối với nguyên tắc cân bằng đối trọng về lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và công chúng. Thông qua việc phân tích chuyên sâu các quy định về giới hạn quyền và các trường hợp sử dụng hợp pháp tại Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ kết hợp đối chiếu kinh nghiệm quốc tế, công trình đã chỉ ra nhiều điểm bất cập của khung pháp lý hiện hành. Bốn nhóm giải pháp hoàn thiện được tác giả đề xuất mang tính cụ thể, khoa học, góp phần cung cấp luận cứ hữu ích cho hoạt động lập pháp và thực thi pháp luật sở hữu trí tuệ tại Việt Nam.