Luận văn: Cấm phân biệt đối xử lao động theo ILO và pháp luật Việt Nam

Luận văn thạc sĩ phân tích nguyên tắc cấm phân biệt đối xử lao động theo quy định của ILO và sự tương thích trong pháp luật Việt Nam, đề xuất giải pháp.

Chuyên ngành

Luật Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

93
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và ý nghĩa của Nguyên tắc Cấm Phân biệt Đối xử

Nguyên tắc cấm phân biệt đối xử là một trong những nguyên tắc cơ bản được Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đề ra nhằm bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực lao động. Phân biệt đối xử trong việc làm là hành động phân biệt, loại trừ hoặc ưu tiên dựa trên các tiêu chí như giới tính, tôn giáo, dân tộc, tuổi tác hoặc tình trạng sức khỏe, gây ảnh hưởng đến cơ hội việc làm và điều kiện công việc. Nguyên tắc này có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy bình đẳng cơ hộiđối xử công bằng cho tất cả người lao động, từ đó góp phần xây dựng một môi trường lao động công bằng, lành mạnh và phát triển bền vững.

1.1. Định nghĩa Phân biệt Đối xử trong Lao động

Theo Công ước số 111 năm 1958 của ILO, phân biệt đối xử là bất kỳ sự phân biệt, loại trừ hay ưu tiên nào dựa trên lý do về chủng tộc, màu da, giới tính, tín ngưỡng, ý kiến chính trị, nguồn gốc quốc gia hay tính chất xã hội, làm ảnh hưởng đến bình đẳng cơ hội hoặc đối xử trong việc làm và nghề nghiệp. Định nghĩa này là cơ sở pháp lý quốc tế cho quyền bình đẳng trong lao động.

1.2. Tầm quan trọng của Nguyên tắc này

Nguyên tắc cấm phân biệt đối xử đóng vai trò nền tảng trong việc bảo vệ quyền con người cơ bản của người lao động. Nó tạo điều kiện cho mọi người có cơ hội bình đẳng trong tuyển dụng, đào tạo, thăng tiến và điều kiện làm việc, từ đó thúc đẩy phát triển đầy đủ tiềm năng của nhân lực và tăng cường sự ổn định xã hội.

II. Các Công ước Quốc tế của ILO về Cấm Phân biệt Đối xử

Tổ chức Lao động Quốc tế đã ban hành nhiều công ước quốc tế nhằm thiết lập và bảo vệ nguyên tắc cấm phân biệt đối xử. Công ước số 111 năm 1958 là công ước cơ bản nhất, qui định chung về cấm phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp. Bên cạnh đó, Công ước số 156 năm 1981 tập trung vào bình đẳng đối xử cho lao động nam và nữ có trách nhiệm gia đình, nhằm đảm bảo rằng những người có trách nhiệm chăm sóc gia đình không bị phân biệt đối xử trong việc làm. Các công ước này tạo thành khuôn khổ pháp lý toàn cầu bắt buộc các quốc gia thành viên phải tuân thủ.

2.1. Công ước số 111 năm 1958 về Phân biệt Đối xử

Đây là công ước cơ bản của ILO yêu cầu các quốc gia cam kết thực hiện chính sách bình đẳng cơ hộiloại bỏ phân biệt đối xử trong tuyển dụng, thăng tiến, đào tạo và điều kiện làm việc. Công ước này có tính ràng buộc pháp lý cao và là tiêu chuẩn tối thiểu mà mỗi quốc gia thành viên phải đạt được.

2.2. Công ước số 156 năm 1981 về Bình đẳng Cơ hội

Công ước số 156 mở rộng nguyên tắc cấm phân biệt đối xử bằng cách bảo vệ lao động nam và nữ có trách nhiệm gia đình. Công ước qui định rằng các người sử dụng lao động không được phân biệt đối xử với những lao động phải chăm sóc con cái hay người thân, đồng thời thúc đẩy các biện pháp cân bằng cuộc sống và công việc.

III. Nội luật hóa Nguyên tắc Cấm Phân biệt Đối xử trong Pháp luật Việt Nam

Pháp luật Việt Nam đã tích cực nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế của ILO vào hệ thống pháp luật lao động quốc gia. Bộ Luật Lao động năm 2019 là văn bản pháp luật chính qui định về cấm phân biệt đối xử trong lao động và việc làm. Luật qui định quyền bình đẳng trong việc tuyển dụng, thực hiện hợp đồng lao động, và các điều kiện làm việc khác, không phân biệt giới tính, tuổi tác, tôn giáo, dân tộc hay quan điểm chính trị. Bên cạnh đó, Hiến pháp Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng qui định quyền bình đẳng giữa công dân. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành còn gặp nhiều thách thứchạn chế cần được cải thiện.

3.1. Quy định trong Bộ Luật Lao động 2019

Bộ Luật Lao động 2019 qui định rõ nguyên tắc cấm phân biệt đối xử áp dụng cho mọi giai đoạn quan hệ lao động từ tuyển dụng, ký kết hợp đồng đến chấm dứt hợp đồng. Luật cũng qui định bình đẳng giớibảo vệ lao động nữ, đặc biệt là những người có trách nhiệm gia đình, phù hợp với Công ước số 156 của ILO.

3.2. Các quy định bảo vệ lao động trong pháp luật Việt Nam

Ngoài Bộ Luật Lao động, pháp luật Việt Nam còn có Luật Bình đẳng Giới, Luật Bảo vệ Quyền Lợi Người Lao độngcác quy định về An toàn Vệ sinh Lao động, tạo nên một khung pháp lý toàn diện nhằm bảo vệ quyền lợi người lao độngngăn chặn phân biệt đối xử trong mọi lĩnh vực lao động.

IV. Thách thức và Giải pháp Hoàn thiện Pháp luật

Mặc dù pháp luật Việt Nam đã nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế của ILO, nhưng thực tiễn thi hành vẫn còn gặp nhiều thách thức như nhận thức hạn chế của người sử dụng lao động về nguyên tắc cấm phân biệt đối xử, thiếu cơ chế kiểm tra giám sát hiệu quả, và khó khăn trong xử lý vi phạm. Để cải thiện, cần tăng cường giáo dục, đào tạo về bình đẳng trong lao động, nâng cao chất lượng kiểm tra của Sở Lao động, hoàn thiện quy trình xử lý khiếu nạităng cường hợp tác quốc tế với ILO để nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật.

4.1. Những thách thức trong Thực tiễn Thi hành

Các thách thức chính bao gồm: nhận thức không đủ về nguyên tắc cấm phân biệt đối xử, thiếu bằng chứng cụ thể để chứng minh hành vi phân biệt, cơ chế giám sát còn yếu kém, và chi phí kiện tụng cao cho người lao động. Ngoài ra, phân biệt đối xử ẩn nấp khó được phát hiện và xử lý theo pháp luật.

4.2. Các Giải pháp Hoàn thiện và Nâng cao Hiệu quả

Các giải pháp gợi ý: (1) Tăng cường giáo dục về bình đẳng cơ hội lao động cho doanh nghiệp; (2) Hoàn thiện quy định pháp luật để rõ ràng hơn về hình thức phân biệt đối xử; (3) Nâng cao năng lực của cơ quan quản lý lao động trong kiểm tra, xử lý vi phạm; (4) Tạo cơ chế bảo vệ cho người lao động nộp đơn khiếu nại.

18/12/2025
Luận văn thạc sĩ luật học nguyên tắc cấm phân biệt đối xử trong lao động việc làm của tổ chức lao động quốc tế ilo và sự nội luật hóa trong pháp luật việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương ILO và Tuyên bố năm 1998 của 14 ILO về các nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động. Theo Tuyên bố của ILO năm 1998, tất cả các thành viên ILO dù đã gia nhập hay chưa gia nhập các công ước cơ bản đều phải tôn trọng, thúc đẩy và thực hiện các nguyên tắc và quyền trong những Công ước này [2,tr.7-8] Tám công ước cơ bản của ILO đã trở thành một cấu phần quan trọng của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, như CPTPP (Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương) hay Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và EU, cũng như trong phần lớn chính sách về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp của các công ty đa quốc gia.Thông qua việc đặt ra các tiêu chuẩn và thiết lập một hệ thống giám sát tốt nhất, ILO đã có những đóng góp quan trọng và nhất quán trong việc tăng cường cơ hội việc làm bình đẳng. ILO thể hiện quan điểm của mình bằng cách đưa ra những quy định cụ thể trong các văn bản có giá trị pháp lý cao, ảnh hưởng khá lớn tới hoạt động của các quốc gia trong lĩnh vực lao động. Việt Nam hiện đã gia nhập 6 trong số 8 Công ước Luận văn thạc sĩ Luật học cơ bản của ILO.

Các Công ước còn lại chưa gia nhập bao gồm Công ước số 87 và số 105. Liên quan đến các nguyên tắc cấm phân biệt đối xử trong lao động việc làm, ILO đã ban hành các Công ước sau đây: Công ước số 111 năm 1958 về phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp; Công ước số 156 năm 1981 về bình đẳng cơ may và đối xử với lao động nam và nữ: những NLĐ có trách nhiệm gia đình. Sự hình thành của các nguyên tắc cấm phân biệt đối xử trong lao động việc làm cụ thể như sau: Vấn đề phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp được đưa vào chương trình nghị sự tại kỳ họp thứ 42 của ILO. Hội nghị toàn thể của tổ chức ILO diễn ra từ ngày 04/06/1958 đến 25/06/1958, hội nghị đã thông qua Công ước về phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp ( Công ước số 111).

15 Công ước có hiệu lực từ ngày 15/06/1960 để thúc đẩy cơ hội và đối xử bình đẳng cho tất cả NLĐ nhằm loại bỏ phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp. Chính phủ Việt Nam đã phê chuẩn Công ước số 111 vào tháng 10 năm 1997. Ngày 03/06/1981, trong kỳ họp thứ sáu mươi bảy của Hội nghị toàn thể của ILO tại Giơ-ne-vơ. Với sự ghi nhận các quy định của các Công ước và Khuyến nghị quốc tế về lao động nhằm bảo đảm bình đẳng cơ may và đối xử với những NLĐ nam và nữ, nhất là Công ước và Khuyến nghị về Trả công bình đẳng năm 1951, Công ước và Khuyến nghị về Phân biệt đối xử (việc làm và nghề nghiệp) năm 1958, và Phần VIII của Khuyến nghị về Phát triển nguồn nhân lực năm 1975.

Xét thấy Công ước số 111 về Phân biệt đối xử việc làm và nghề nghiệp năm 1958 đã không đề cập rõ ràng những sự khác biệt dựa trên những trách nhiệm Gia đình và xét thấy cần thiết có những quy định mới về điểm này. Nhận thấy những vấn đề mà tất cả mọi NLĐ đang gặp phải thì đối Luận văn thạc sĩ Luật học với NLĐ có trách nhiệm gia đình lại càng trầm trọng hơn và thừa nhận sự cần thiết phải cải thiện điều kiện của những người này vừa bằng những biện pháp đáp ứng những nhu cầu riêng của họ, vừa bằng những biện pháp nhằm cải thiện điều kiện nói chung cho NLĐ. Sau khi đã quyết định chấp nhận một số đề nghị về bình đẳng cơ may và đối xử với những NLĐ nam và nữ: những NLĐ có trách nhiệm gia đình, là vấn đề thuộc điểm thứ năm trong Chương trình nghị sự kỳ họp. Vậy nên, ngày 23 tháng 6 năm 1981, Công ước số 156 về Những NLĐ có trách nhiệm gia đình chính thức được thông qua.

Khái niệm và ý nghĩa của nguyên tắc cấm phân biệt đối xử trong lao động việc làm của Tổ chức Lao động Quốc tế 1. Khái niệm phân biệt đối xử trong lao động việc làm của Tổ chức Lao động Quốc tế 16 “Trước hết “phân biệt đối xử” là một thuật ngữ xã hội học chỉ tới một sự bất bình đẳng trong cách cư xử đối với một cá nhân hay một nhóm nhất định dựa vào sự phân loại tầng lớp hay đẳng cấp. Phân biệt đối xử thực tế là một hành vi mang tính định kiến đối với một nhóm khác, bao gồm việc loại bỏ hoặc hạn chế các thành viên trong một nhóm khỏi những cơ hội mà những nhóm khác được tiếp cận. Liên Hiệp Quốc đã từng giải thích như sau: "Những hành vi phân biệt đối xử có nhiều hình thức, nhưng tất cả chúng đều có liên quan đến một số hình thức loại trừ và từ chối"[3].

Những chủ đề, khía cạnh tạo ra sự phân biệt đối xử trong xã hội rất đa dạng: giới tính, độ tuổi, chủng tộc, sắc tộc, quốc tịch, người khuyết tật,. Đó cũng chính là lý do các nước thường không xây dựng một bộ luật tổng hợp về chống phân biệt đối xử mà sẽ phân chia, lồng ghép các quy định về chống phân biệt đối xử trong từng bộ luật chuyên ngành. Những thuật ngữ “lao động” và “việc làm” bao hàm cả việc được tiếp Luận văn thạc sĩ Luật học nhận đào tạo nghề, được tiếp nhân việc làm và các loại nghề nghiệp, và cả các điều kiện sử dụng lao động.” Điều này có nghĩa là thuật ngữ “lao động” và “việc làm” bao gồm tất cả các giai đoạn của chu trình làm việc như: Chuẩn bị cho công việc, giáo dục và đạo tạo nghề, nhận vào làm, trong suốt quá trình lao động và điều kiện làm việc, xúc tiến sự nghiệp và đảm bảo an sinh xã hội phát sinh từ việc làm. Bởi vậy nguyên tắc cấm phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp được áp dụng trong tất cả các giai đoạn của chu trình làm việc.

Điều khoản và điều kiện làm việc ở đây bao gồm cả: - Giờ làm việc, thời gian nghỉ, ngày lễ hằng năm được hưởng lương, các biện pháp an toàn vệ sinh lao động, các biện pháp an sinh xã hội và cơ sở phúc lợi, các chế độ liên quan tới việc làm. - Tiền công trả cho NLĐ đảm nhiệm công việc có giá trị như nhau. 17 - Các quyết định ở tất cả các cấp độ của chu kỳ làm việc (từ tiếp cận đào tạo và việc làm đến nghỉ hưu) phả được dựa trên những yếu tố như phẩm chất, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực,…mà không có sự can thiệp của định kiến và các giả định phân biệt đối xử dựa trên giới tính, chủng tộc, dân tộc, màu da, tôn giáo hoặc nguồn gốc xã hội của NLĐ. -Sự thăng tiến trong công việc dựa trên năng lực cá nhân.

-Bảo đảm về thời hạn làm việc (khuyến nghị phân biệt đối xử Việc làm và nghề nghiệp, năm 1958 (số 111), khoản 8 mục I). Qua đó, ta có thể thấy, chủ thể áp dụng của nguyên tắc cấm phân biệt đối xử trong lao động việc làm là tất cả lao động trong các thành phần kinh tế, nghề nghiệp, dù là lao động có việc làm chính thức trong các mối quan hệ việc làm cũng như những người tự tạo việc làm hoặc tham gia vào những nghề tự do, doanh nhân, lao động gia đình không được trả công, nông dân Luận hay lao động trong khuvăn thạcchính vực không sĩ Luật thức. học Trong Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền 1948 đã khẳng định cấm phân biệt đối xử là một nguyên tắc thiết yếu và cần được áp dụng trong lĩnh vực lao động từ giai đoạn bắt đầu đến khi chấm dứt quan hệ lao động. Theo điều 23 và điều 24 của Tuyên ngôn thể hiện rõ: “Mọi người đều có quyền làm việc, quyền tự do chọn việc làm, quyền được hưởng các điều kiện làm việc chính đáng và thuận lợi đối với công việc và quyền được bảo vệ chống thất nghiệp; mọi người, không vì lý do kì thị nào, đều có quyền được hưởng lương bổng như nhau cho cùng một công việc, bên cạnh đó, mọi người đều có quyền thành lập và tham gia vào các nghiệp đoàn để đảm bảo quyền và lợi ích của mình; ngoài ra, mọi người đều có quyền nghỉ ngơi và giải trí, kể cả việc hạn chế hợp lí số giờ làm việc, các ngày nghỉ định kì có trả lương”.

18 Theo Công ước số 111 của ILO năm 1958 “về phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp” đã định nghĩa phân biệt đối xử theo điều 1 và điều 2 như sau: “Mọi sự phân biệt, loại trừ hoặc ưu đãi dựa trên chủng tộc, màu da, giới tính, tôn giáo, chính kiến, dòng dõi dân tộc hoặc nguồn gốc xã hội, có tác động triệt bỏ hoặc làm phương hại sự bình đẳng về cơ may hoặc về đối xử trong việc làm hoặc nghề nghiệp”. Dựa trên định nghĩa “phân biệt đối xử” của ILO ta có thể chia phân biệt đối xử thành hai loại: phân biệt đối xử trực tiếp và phân biệt đối xử gián tiếp. Phân biệt đối xử trực tiếp được hiểu là có sự bất bình đẳng, phân biệt, đối xử không công bằng giữa những NLĐ dựa trên các tiêu chí về chủng tộc, màu da, giới tính, tôn giáo, chính kiến, dòng dõi dân tộc, nguồn gốc xã hội,… Đây là dạng phân biệt đối xử dễ nhận thấy, có thể nhận biết mà không cần áp dụng trên thực tế. Phân biệt đối xử gián tiếp được hiểu là trong các chính sách, quy định hoặc nộiLuận văn quy không thểthạc hiện sựsĩphân Luật biệt học đối xử nhưng khi áp dụng thì lại ngấm ngầm gây ra sự phân biệt lớn, không bình đẳng giữa NLĐ.

Dù được biểu hiện dưới hình thức nào thì phân biệt đối xử vẫn có những đặc điểm cơ bản sau: (căn cứ phụ lục 1: ba thành tố của phân biệt đối xử theo Công ước số 111). Một là, những hành động được xác định có tính phân biệt đối xử là loại trừ, hạn chế và thiên vị, hay ưu đãi. Hai là, các nguyên nhân của sự phân biệt đối xử là các đặc điểm cá nhân như chủng tộc, sắc tộc, dòng dõi, nguồn gốc dân tộc, màu da, giới tính, tuổi tác, sự toàn vẹn về thể chất. Ba là, mục tiêu và hậu quả của sự phân biệt đối xử là có tính mục tiêu, hoặc ảnh hưởng đến việc ngăn ngừa nạn nhân thực hiện hoặc hưởng thụ các quyền con người và tự do cơ bản.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ