Chương 1: Tổng quan của vấn đề nghiên cứu. - Chương 2: Cơ sở lý luận của rào cản kỹ thuật đối với mặt hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu sang thị trường EU. - Chương 3: Thực trạng tình hình áp dụng các rào cản kỹ thuật của thị trường EU đối với mặt hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu tại công ty TNHH mây tre xuất khẩu Chúc Sơn. Chương 4: Định hướng phát triển và đề xuất giải pháp vượt rào cản kỹ thuật cho mặt hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu sang thị trường EU của công ty TNHH mây tre xuất khẩu Chúc Sơn.
SVTH: Đặng Thu Trang 4 GVHD: ThS. Đặng Diệu Thúy Luan van Khóa luận tốt nghiệp Khoa Thương Mại Quốc Tế Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA RÀO CẢN KỸ THUẬT ĐỐI VỚI MẶT HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ XUẤT KHẨU SANG THỊ TRƯỜNG EU. Một số khái niệm cơ bản. Khái niệm về hàng thủ công mỹ nghệ.
Việt Nam là một quốc gia đã hình thành và phát triển từ hàng ngàn năm trước, ban đầu gắn liền với hoạt động nông nghiệp và sản xuất nông thôn. Sau đó có một số bộ phận dân cư liên kết với nhau tạo thành các phường hội sản xuất một số mặt hàng thủ công như dệt vải, đúc đồng, mỹ nghệ, … từ đó các nghề được lan truyền và phát triển thành làng nghề. Thủ công mỹ nghệ là một ngành có truyền thống từ lâu đời, truyền thống đó gắn liền với tên những làng nghề, phố nghề và được biểu hiện bằng những sản phẩm thủ công với những nét độc đáo, tinh xảo, hoàn mỹ. Hàng thủ công mỹ nghệ là những vật trang trí, đồ dùng gia đình chủ yếu được sản xuất thủ công từ bàn tay khéo léo của người lao động từ những nguyên liệu có sẵn trong thiên nhiên như mây, tre, gỗ, gốm sứ,…Sản phẩm thủ công mỹ nghệ là những sản phẩm mang tính truyền thống và độc đáo của từng vùng, có giá trị chất lượng cao, vừa là hàng hoá, vừa là sản phẩm văn hoá, nghệ thuật, mỹ thuật, thậm chí có thể trở thành di sản văn hoá của dân tộc, mang bản sắc văn hoá của vùng lãnh thổ hay quốc gia sản xuất ra chúng.
Phân loại và đặc điểm hàng thủ công mỹ nghệ. Hàng thủ công mỹ nghệ được chia làm 4 nhóm sau: - Nhóm sản phẩm làm từ gỗ. Gỗ là một dạng tồn tại vật chất có cấu tạo chủ yếu từ các thành phần cơ bản như: xenluloza (40-50%), hemixenluloza (15-25%), lignin (15-30%) và một số chất khác. Những loại gỗ được sử dụng làm hàng thủ công mỹ nghệ thường là gỗ nhóm 1.
Tiêu chuẩn chính của các loại gỗ trong nhóm này là gỗ có màu sắc, hương vị thơm. Ưu điểm của gỗ là cách điện, cách nhiệt, có vân thớ đẹp, dễ nhuộm màu, dễ trang sức bề mặt,… SVTH: Đặng Thu Trang 5 GVHD: ThS. Đặng Diệu Thúy Luan van Khóa luận tốt nghiệp Khoa Thương Mại Quốc Tế - Nhóm sản phẩm làm từ mây, tre đan. Mây tre đan là những loại cây rất phổ biến ở những làng quê Việt Nam nên được sử dụng rất nhiều để sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ như lẵng hoa, giỏ, vật dụng trong gia đình,…Các sản phẩm thủ công mỹ nghệ làm từ mây, tre đan có đặc điểm là bền chắc, mềm mại và đẹp.
Đa phần các vật dụng làm bằng mây tre đan là nguyên liệu tự nhiên, không bị rách hay vỡ khi bị rơi hay cọ xát nên rất an toàn, việc bảo quản cũng khá đơn giản. - Nhóm sản phẩm gốm sứ mỹ nghệ. Tại Việt Nam có rất nhiều làng nghề gốm sứ nổi tiếng như Bát Tràng, Chu Đậu, Đông Triều,…. Để đáp ứng được thị hiếu tiêu dùng các sản phẩm nay phải có nước men bóng láng, màu sắc thanh nhã, nhẹ nhàng kết hợp với đường nét hoa tiết và kích thước mẫu mã gây cảm giác thích thú khi chiêm ngưỡng sản phẩm, chất liệu làm sản phẩm phải mịn màng, không lẫn tạp chất và nổi bọt khí.
- Nhóm hàng thêu. Đây là nhóm mặt hàng đòi hỏi thời gian sản xuất lâu nhất trong các nhóm hàng thủ công mỹ nghệ. Các mặt hàng này đòi hỏi cao về màu sắc, phải thanh nhã, phù hợp với kiểu dáng và chất liệu. Hiệp định về hàng rào kỹ thuật (TBT) trong thương mại quốc tế.
Khái niệm rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế. Ngày nay, hoạt động thương mại quốc tế mở rộng, giao thương buôn bán giữa các quốc gia tăng lên. Hàng hóa sẽ dịch chuyển giữa các quốc gia với nhau, vì vậy việc đưa ra các biện pháp để đảm bảo chất lượng hàng hóa quốc gia mình nhập khẩu, hoặc để bảo vệ cuộc sống hay sức khỏe con người, động và thực vật, bảo vệ mội trường, ngăn ngừa các hoạt động man trá là điều tất yếu và hợp lý. Về cơ bản những biện pháp này được chia ra làm hai nhóm là nhóm biện pháp thuế quan và nhóm biện pháp phi thuế quan.
Khi tham gia vào các tổ chức thương mại trong khu vực và trên thế giới đòi hỏi những biện pháp thuế quan dần dần phải được loại bỏ thì những biện pháp phi thuế lại trở thành một biện pháp hợp lý và tỏ ra hữu hiệu SVTH: Đặng Thu Trang 6 GVHD: ThS. Đặng Diệu Thúy Luan van Khóa luận tốt nghiệp Khoa Thương Mại Quốc Tế đối với nhiều quốc gia đặc biệt là với các quốc gia phát triển. Một trong những biện pháp phi thuế được sử dụng nhiều nhất chính là rào cản kỹ thuật trong thương mại. Có nhiều tổ chức đưa ra khái niệm về biện pháp kỹ thuật trong thương mại quốc tế, theo định nghĩa của WTO: “ Các biện pháp kỹ thuật là các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật mà một nước áp dụng đối với hàng hoá nhập khẩu và/hoặc quy trình đánh giá sự phù hợp của hàng hoá nhập khẩu đối với các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đó”.
Tuy nhiên, nhiều nước lại có xu hướng lạm dụng các biện pháp kỹ thuật này nhằm mục tiêu hạn chế hàng hóa nhập khẩu, bảo hộ cho sản xuất trong nước. Do đó các biện pháp kỹ thuật này còn được gọi với cái tên “ Rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế” hay “ biện pháp TBT ”. Mục đích của Hiệp định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại( Hiệp định TBT). Hiệp định TBT ra đời với mục đích nhằm xác định quyền của mỗi nước được áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ sức khỏe và đời sống cộng đồng, bảo vệ môi trường sống, đảm bảo an ninh quốc gia, đồng thời đưa ra các quy định có tính nguyên tắc đối với các văn bản pháp quy và tiêu chuẩn kỹ thuật nhằm mục đích tránh các biện pháp được sử dụng như các rào cản thương mại.
Mục đích của những biện pháp kỹ thuật về bản chất là tốt tuy nhiên nó lại bị lạm dụng, nhiều biện pháp quá khắt khe, thậm chí không cần thiết gây cản trở hoạt động thương mại quốc tế khiến không ít người hiểu sai bản chất. Các hình thức của rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế. Bản chất các rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế chính là những yêu cầu về kỹ thuật đối với hàng hóa xuất khẩu vào một quốc gia nào đó. Theo WTO, các rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế được chia làm 3 loại như sau: Quy định kỹ thuật.
Theo điều 1 phụ lục 1 của hiệp định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại WTO: “ Quy định kỹ thuật là tài liệu chứa đựng đặc tính của sản phẩm hoặc quy trình và phương pháp sản xuất có liên quan, gồm các quy định về hành chính được áp dụng SVTH: Đặng Thu Trang 7 GVHD: ThS. Đặng Diệu Thúy Luan van Khóa luận tốt nghiệp Khoa Thương Mại Quốc Tế một cách bắt buộc. Chúng có thể bao gồm tất cả hoặc chỉ liên quan riêng đến thuật ngữ chuyên môn, các biểu tượng, yêu cầu về bao bì, mã hiệu hoặc nhãn hàng được áp dụng cho sản phẩm quy trình hoặc phương pháp sản xuất.” Đây là những yêu cầu kỹ thuật đòi hỏi các quốc gia xuất khẩu phải tuân thủ và có giá trị bắt buộc nghĩa là nếu một sản phẩm nào đó không đáp ứng được quy định kỹ thuật này thì sẽ không được phép bán trên thị trường. Tiêu chuẩn kỹ thuật.
Theo điều 2 phụ lục 1 của hiệp định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại của WTO: “ Tiêu chuẩn là tài liệu được chấp nhận bởi một tổ chức được công nhận, đề ra, để sử dụng chung và nhiều lần, các quy tắc, hướng dẫn hoặc đặc tính của sản phẩm hoặc các quy trình và phương pháp sản xuất sản phẩm đó mà việc thực hiện không bắt buộc. Nó cũng có thể bao gồm tất cả hoặc chỉ liên quan đến một trong các yếu tố như: thuật ngữ chuyên môn, biểu tượng, yêu cầu về bao bì, mã hiệu hoặc nhãn hàng được áp dụng cho sản phẩm, quy trình hoặc phương pháp sản xuất.” Như vậy theo Hiệp định này, trái với quy định kỹ thuật thì “ tiêu chuẩn kỹ thuật” chỉ là các tiêu chuẩn tự nguyện áp dụng, mang tính khuyến nghị. Tiêu chuẩn này chỉ trở thành hàng rào khi quy định quá chi tiết, quá khác biệt, không có căn cứ khoa học gây khó khăn cho hàng hóa lưu thông trên thị trường. Quy trình đánh giá sự phù hợp.
Đây là việc sử dụng một bên trung lập thứ ba để xác định các tiêu chuẩn hoặc quy định kỹ thuật có được đáp ứng hay không hay đó chính là các thủ tục kỹ thuật như: kiểm tra, thẩm tra, thanh tra và chứng nhận sự phù hợp của sản phẩm với các quy định kỹ thuật hay tiêu chuẩn kỹ thuật. Quy trình này có thể trở thành những rào cản kỹ thuật khi việc áp dụng gây mất nhiều thời gian hơn hay chặt chẽ hơn mức cần thiết. SVTH: Đặng Thu Trang 8 GVHD: ThS. Đặng Diệu Thúy Luan van Khóa luận tốt nghiệp Khoa Thương Mại Quốc Tế 2.
Tác động của rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế. - Đối với quốc gia nhập khẩu. Bảo vệ người tiêu dùng. Kinh tế phát triển, người tiêu dùng ngày càng đòi hỏi cao hơn về chất lượng hàng hóa như không chứa chất có hại cho sức khỏe.
Xu thế toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ, hàng hóa được vận chuyển buôn bán giữa nhiều quốc gia với nhau, để tránh ảnh hưởng đến sự an toàn của người tiêu dùng, hàng hóa xuất khẩu đó phải đảm bảo được các tiêu chuẩn hay quy định của quốc gia nhập khẩu về chất lượng, các quy định về hóa chất được sử dụng, nhãn hiệu hay bao gói.