mở đầu cho thời kỳ suy thoái. Chính sách áp dụng phù hợp là chính sách tín dụng linh hoạt chuyển đổi qua lại giữa hai trạng thái mở rộng và thắt chặt, tủy theo tình hình của nền kinh tế cũng như tình hình quản trị tín dụng của ngân hàng. Mặt khác, chính sách tín dụng của ngân hàng cần gắn bó chặt chẽ với chính sách kinh tế vĩ mô, đặc biệt gắn với chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà nước và các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô như lãi suất, tỷ lệ lạm phát và tốc độ tăng trưởng GDP. Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Cát Thanh Bình Luan van 9 1.
Xây dựng quy trình quản trị rủi ro tín dụng. Quy trình quản trị rủi ro tín dụng có bốn giai đoạn cơ bản: khởi đầu và giải ngân; giám sát và quản lý; thu hồi và xử lý nợ; thẩm định lại rủi ro tín dụng. Mỗi ngân hàng có một quy trình quản lý rủi ro tín dụng riêng cho mình, nhưng vẫn đảm bảo đầy đủ giai đoạn. Khởi đầu và giải ngân: Đây là giai đoạn đầu tiên trong quy trình.
Giai đoạn này, các NHTM cần phải làm tốt, làm kỹ ngay lúc bắt đầu, cụ thể như việc thu thập thông tin, thẩm định KH… trong đó cần chú trọng đến các khâu như: So sánh kết quả xếp hạng KH nội bộ với xếp hạng của các cơ quan bên ngoài; Phân tích cơ cấu nợ, mục đích là để xác định những tác động của cơ cấu nợ đối với nguy cơ vỡ nợ của KH. Nếu cơ cấu nợ không hợp lý và hiệu quả thì người trả nợ sẽ bị hạn thấp loại xếp hạng. Hai khâu này cần phải được tiến hành phối hợp cùng với nhau mới phát huy được tối đa hiệu quả. Bên cạnh thông tin xếp hạng của các tổ chức khác, mỗi NH nên đánh giá xếp hạng KH của mình dựa trên những tiêu chí, thang điểm để có thể căn cứ vào đấy hoạch định kế hoạch cho vay cũng như phương án thu hồi nợ khả thi.
Đánh giá rủi ro của KH là việc đánh giá mức độ tổn thất ước tính tương ứng với từng mức độ rủi ro khác nhau. Thẩm định tín dụng mục đích là để hiểu biết về KH, khả năng sinh lợi, phát hiện và chú trọng rủi ro để từ đó giảm thiểu rủi ro. Thẩm định KH bao giờ cũng tồn tại mâu thuẫn giữa một bên là thẩm định quá kỹ thì chậm, KH bỏ đi, với một bên là thẩm định qua loa thì rủi ro cao. NH là một trung gian tài chính nên rủi ro trong hoạt động tín dụng là không thể tránh khỏi, những nhà quản lysNH giỏi phải biết chấp nhận rủi ro ở mức có thể chấp nhận được.
Do đó việc thẩm định KH phải luôn tuân thủ theo quy trình đã được đề ra. Bám sát theo đúng quy trình định sẵn, việc thẩm định sẽ không phải tốn nhiều thời gian do phải định hướng , mà vẫn có thể đảm bảo giảm thiểu được rủi ro. Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Cát Thanh Bình Luan van 10 Sau khi phân tích, đánh giá, thẩm định KH, hồ sơ được duyệt, các Kh tiến hành soạn thảo hồ sơ tín dụng mang tính ràng buộc chặt chẽ về mặt pháp lý và giải ngân. Giám sát và quản lý: Trong thời hạn khoản vay, cần phải theo dõi việc sử dụng vốn vay của KH, việc thực thi các phươn án, kế hoạch trả nợ, rà soát bổ sung hồ sơ đảm bảo và đầy đủ.
Mục đích nhằm giúp phát hiện kịp thời nhanh chóng những dấu hiệu cảnh báo sớm, những nguy cơ rủi ro tiềm ẩn để có biện pháp ngăn chặn, khắc phục, phòng ngừa. Cần chú trọng việc giám sát và quản lý sau cho vay, giúp các NH gần gũi với KH hơn, nắm bắt kịp thời nhu cầu cũng như những khó khăn để tư vấn và cùng nhau giải quyết. Muốn thực hiện được, nhân viên Nh cần phải định kỳ thăm hỏi KH, giám sát tình hình tài chính, đánh giá lại tiềm lực, khả năng của khách hàng, đồng thời rà soát lại hồ sơ vay, cập nhật tình hình biến động của thị trường, ngành nghề kinh doan, những thay đổi dù nhỏ của KH. Thu hồi và xử lý nợ.
Giai đoạn thu hồi và xử lý nợ cũng vô cùng quan trọng. Bên cạnh việc rà soát lại hồ sơ, nhân viên NH cũng phải thường xuyên theo dõi việc trả nợ của KH. Tiến độ trả nợ một phần đánh giá nên tiềm lực của KH, cũng như thái độ cộng tác, nguy cơ rủi ro trong tương lai. Nếu việc trả nợ đang tốt bỗng dưng chậm lại một vài kỳ, nhưng vẫn thanh toán đủ, nhân viên NH cần phải tìm hiểu nguyên nhân, để tìm biện pháp khắc phục, thậm chí có thể giúp ích được cho KH bằng cách trao đổi với đối tác KH kho cần thiết, tư vấn cho KH những phương án mới giúp nhanh thu hồi được vốn… Nếu việc trả nợ thường xuyên chậm và để quá hạn nhiều kỳ, ngoài việc theo dõi, tìm hiểu nguyên nhân, đôn đốc KH trả nợ, nhân viên NH cần phải tiến hành rà soát hồ sơ, thẩm định lại khả năng trả nợ và chuyển qua xử lý nợ.
Việc xử lý nợ cần phải được tiến hành càng sớm càng tốt theo đúng trình tự và thủ tục, nên có một bộ phận hoặc công ty xử lý nợ riêng biệt để tăng thêm tính chuyên môn hóa cao và đạt được hiệu quả như ý muốn. Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Cát Thanh Bình Luan van 11 Sau khi rà soát thẩm định lại khoản vay, khả năng trả nợ của KH, nếu khoản vay vẫn còn có khả năng thu hồi, bộ phận xử lý nợ hoạch định kế hoạch và biện pháp thu hồi; nếu các khoản vay có nguy cơ mất khả năng thu hồi nợ, bộ phận xử lý nợ sẽ chuẩn bị phươn án xử lý nội bộ, sau đó chuyển hồ sơ sang các cơ quan hữu quan có thẩm quyền thụ lý. Thẩm định lại rủi ro tín dụng. Bên cạnh các giai đoạn trên, việc thẩm định lại RRTD nhằm giúp cho các NH xác định được mức độ tổn thất khi vỡ nợ có thể xảy ra để ngăn ngừa hoặc dung quỹ dự phòng trích lập, xử lý trước.
Đối với những khoản vay không có đảm bảo, việc đánh giá mức độ tổn thất khi vỡ nợ phụ thộc vào giá trị ròng trong bảng cân đối kế toán của KH, tỷ trọng của tín dụng không đảm bảo/tổng giá trị tín dụng. Đối với những khoản vay có đảm bảo, việc xác định mức độ tổn thất khi vỡ nợ được tiến hành theo hai khâu. Một là xác định giá trị của KH, xem xét tài sản của KH có thể bán đi và có những cách thức tin cậy giúp xác định giá trị tài sản này hay không. Hai là xác định liệu những tài sản nhất định của KH có thể được thanh lý độc lập với nhau hay không khi vỡ nợ, nếu KH phá sản thì còn lại được những gì? Việc thẩm định RRTD, xác định mức độ thiệt hại khi vỡ nợ xảy ra, hoặc là hậu quả của việc không trả được nợ để xác định mức độ tổn thất ước tính nhưng cần chú ý tính toán các khoản vay sao cho có thể bù đắp được những tổn thất dự kiến và các tổn thất ngoài dự kiến, tức là cần phải tính đến cả các yếu tố như khả năng vỡ nợ, mức độ tổn thất thực tế khi vỡ nợ và tổn thất thông thường khi vỡ nợ.
Đo lường, kiểm soát, phòng ngừa và xử lý RRTD. Đo lường rủi ro tín dụng. Hoạt động giám sát, kiểm soát RRTD được thực hiện trước, trong và sau khi ra quyết định tín dụng nhằm mục tiêu hạn chế tối đa RRTD bắt nguồn từ nguyên nhân chủ quan. Như vậy, trước khi rua quyết định tín dụng tài trợ NHTM phải ước lượng RRTD cho khoản tín dụng đó và thực hiện giám sát quá trìn hoàn trả khoản tín dụng.
Dấu hiệu RRTD biểu hiện khách hàng không thực hiện hoàn trả tín dụng như cam kết và NH thực hiện giám sát đưa ra quyết định phù hợp. Như vậy, hoạt Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Cát Thanh Bình Luan van 12 động lượng hóa RRTD được thực hiện dưới góc độ tác nghiệp thông qua phân tích tín dụng sử dụng công cụ mô hình và chấm điểm tín dụng để đánh giá RRTD khi ra quyết định tín dụng tài trợ của NHTM. Hiện nay, có các mô hình đo lường tín dụng mà các NH hay sử dụng là: Mô hình điểm số Z, mô hình chấm điểm tín dụng, mô hình 6C… 1. Kiểm soát rủi ro tín dụng.
Dấu hiệu khoản tín dụng có vấn đề. Cho dù NHTM trước khi ra quyết định tài trợ đã đánh giá và lượng hóa RRTD nhưng thay đổi môi trường kinh tế vĩ mô và thị trường luôn đặt khoản tín dụng tài trợ đối mặt với nguy cơ RRTD bởi nguyên nhân khách quan. Do đó, NHTM cần thiết giám sát hoạt động tín dụng nhằm hạn chế tối đa tổn thất từ RRTD. Dấu hiệu khoản tín dụng có vấn đề bao gồm: Trả nợ vay không đúng kỳ hạn hoặc xin gia hạn nợ, Có dấu hiệu đảo nợ, chấp nhận lãi suất tín dụng cao hơn mức trung bình và tỷ suất sinh lời có tình phần bù rủi ro, hệ số đòn bẩy tài chính tăng đột ngột khi suất sinh lời không tăng, chất lượng đảm bảo tín dụng thấp, vốn chủ sở hữu thay đổi do đánh giá lại tài sản của KH nhằm tăng hạn mức tín dụng, nguoond trả nợ theo cam kết dựa vào khoản thu bất thường.
Xử lý khoản tín dụng có vấn đề. Các cách xử lý khoản tín dụng có vấn đề: Giám sát chặt chẽ kịp thời tình hình sử dụng và thu hồi vốn tài trợ cho khoản tín dụng, NHTM phối hợp chặt chẽ với doanh nghiệp trong hoạt động thu hồi đầy đủ vốn vay. Tư vấn hỗ trợ con nợ các giải pháp nhằm các khoản phải thu, tích cực thu nợ tín dụng thương mại con nợ đã tài trợ. Chủ động đưa ra các giải pháp giới hạn tổn thất từ RRTD như thanh lý tài sản đảm bảo, phong tỏa tài khoản tiền gửi NH.
Yêu cầu con nợ bổ sung tài sản đảm bảo khi thấy giá trị tài sản đảm bảo có dấu hiệu giảm sút. Phòng ngừa và xử lý rủi ro tín dụng. Phòng ngừa rủi ro tín dụng. - Thực hiện các quy định an toàn tín dụng được ghi trong luật các TCTD và nghị định của NHNN.
Các quy định được cụ thể hóa trong luật và văn bản dưới luật Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Cát Thanh Bình Luan van 13 nhằm kiểm soát và phòng ngừa RRTD bao gồm: Quy định về mức cho vay, đối tượng cho vay ko cho vay.