Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh đại dịch COVID-19 diễn biến phức tạp, nhân viên y tế (NVYT) tuyến huyện tại tỉnh Vĩnh Long đã phải sử dụng trang phục bảo hộ cá nhân (PTPHCN) liên tục trong các hoạt động phòng, chống dịch. Theo số liệu thống kê, tỉnh Vĩnh Long ghi nhận 22.305 ca dương tính COVID-19 tính đến cuối năm 2021, với nhiệt độ trung bình ban ngày có thể lên tới 36,9°C, tạo điều kiện thuận lợi cho tình trạng căng thẳng nhiệt ở NVYT khi mặc PTPHCN. Nghiên cứu được thực hiện trên 416 NVYT tại 08 trung tâm y tế huyện, thị, thành phố trong khoảng thời gian từ tháng 6/2021 đến tháng 3/2022 nhằm mô tả thực trạng cảm nhận căng thẳng nhiệt và xác định các yếu tố liên quan.

Mục tiêu nghiên cứu tập trung vào việc đánh giá mức độ căng thẳng nhiệt của NVYT khi sử dụng PTPHCN trong phòng chống dịch COVID-19, đồng thời phân tích các yếu tố cá nhân, điều kiện làm việc và đặc điểm trang phục ảnh hưởng đến cảm nhận này. Nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao sức khỏe, hiệu suất làm việc và an toàn lao động cho NVYT, đồng thời cung cấp cơ sở khoa học để đề xuất các biện pháp giảm thiểu căng thẳng nhiệt trong môi trường làm việc đặc thù này.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu dựa trên khái niệm căng thẳng nhiệt, được định nghĩa là tình trạng cơ thể bị áp lực do tăng nhiệt độ da và nhiệt độ lõi cơ thể, khi cơ thể không thể tản nhiệt hiệu quả. Căng thẳng nhiệt ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe và hiệu suất làm việc, đặc biệt trong các công việc đòi hỏi sự tập trung cao như của NVYT. Bộ trang phục bảo hộ cá nhân (PTPHCN) được xem là yếu tố làm tăng gánh nặng nhiệt do khả năng trao đổi nhiệt kém, ngăn cản sự bay hơi mồ hôi và làm tăng nhiệt độ bề mặt da.

Khung lý thuyết còn bao gồm các yếu tố ảnh hưởng đến căng thẳng nhiệt như đặc điểm cá nhân (tuổi, giới tính, thể trạng), điều kiện làm việc (thời gian làm việc, thời gian mặc PTPHCN, môi trường nhiệt độ), loại công việc và đặc điểm trang phục bảo hộ (bộ liền thân hay rời). Mô hình nghiên cứu sử dụng bộ công cụ đánh giá cảm nhận căng thẳng nhiệt của Davey S., bao gồm các biến độc lập và biến phụ thuộc về cảm nhận nhiệt và hậu quả sức khỏe.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp cắt ngang, tiến hành trên 416 NVYT tại 08 trung tâm y tế tuyến huyện, thị, thành phố tỉnh Vĩnh Long từ tháng 6/2021 đến tháng 3/2022. Cỡ mẫu được xác định dựa trên công thức ước tính tỉ lệ với độ tin cậy 95%, độ chính xác 5%, chọn tỉ lệ cảm nhận căng thẳng nhiệt là 50% để đảm bảo cỡ mẫu tối đa. Phương pháp chọn mẫu thuận tiện trên toàn bộ NVYT đáp ứng tiêu chuẩn làm việc ngoài trời, có thời gian mặc PTPHCN ít nhất 4 giờ mỗi ca.

Dữ liệu được thu thập bằng bộ câu hỏi tự điền dựa trên bộ công cụ của Davey S., điều chỉnh phù hợp với ngữ cảnh địa phương. Các biến số bao gồm đặc điểm cá nhân, điều kiện làm việc, loại PTPHCN sử dụng và cảm nhận căng thẳng nhiệt. Dữ liệu được nhập và quản lý bằng phần mềm Epidata 3, phân tích thống kê mô tả và kiểm định Chi bình phương (χ2) bằng phần mềm SPSS 20 với mức ý nghĩa p<0,05. Nghiên cứu tuân thủ quy trình đạo đức nghiên cứu y sinh học, được Hội đồng đạo đức Trường Đại học Y tế Công cộng phê duyệt.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

  1. Tỉ lệ cảm nhận căng thẳng nhiệt cao: 86,8% NVYT có biểu hiện căng thẳng nhiệt khi mặc PTPHCN. Tất cả NVYT cảm thấy nóng đến mức không thể chịu đựng, trong đó 92,3% cảm thấy không thoải mái khi mặc trang phục bảo hộ.

  2. Đặc điểm nhân khẩu học và công việc: Giới tính nữ chiếm 68%, nhóm tuổi trung bình 36,6 ± 8,0 tuổi, với 54,1% trong độ tuổi 31-40. 51,7% NVYT làm việc ≥ 60 giờ mỗi tuần. Bộ trang phục bảo hộ liền thân được sử dụng phổ biến nhất (95,4%).

  3. Yếu tố liên quan đến căng thẳng nhiệt: Các yếu tố có liên quan với mức độ căng thẳng nhiệt cao gồm: giới tính nữ (OR=2,53), tuổi ≤ 40 (OR=2,7), thời gian làm việc ≥ 60 giờ/tuần (OR=2,06), mặc bộ trang phục liền thân (OR=4,95), thời gian ca làm việc > 480 phút (OR=3,46), thời gian mặc PTPHCN > 240 phút (OR=5,47).

  4. Ảnh hưởng đến sức khỏe và hiệu suất: NVYT báo cáo các triệu chứng như chóng mặt, mệt mỏi, đau đầu, đổ mồ hôi nhiều, giảm tập trung. Thời gian nghỉ ngơi trung bình trong ca làm việc chỉ 62,3 phút, nhiều NVYT không có thời gian nghỉ ngơi hợp lý, làm tăng nguy cơ căng thẳng nhiệt.

Thảo luận kết quả

Kết quả nghiên cứu phù hợp với các nghiên cứu quốc tế tại Anh, Ấn Độ và Singapore, cho thấy PTPHCN làm tăng gánh nặng nhiệt và gây ra các triệu chứng căng thẳng nhiệt nghiêm trọng. Việc sử dụng bộ trang phục liền thân làm giảm khả năng trao đổi nhiệt, khiến NVYT chịu áp lực nhiệt lớn hơn so với bộ quần áo rời. Thời gian làm việc dài và thời gian mặc PTPHCN kéo dài làm tăng nguy cơ căng thẳng nhiệt, ảnh hưởng đến sức khỏe và hiệu suất công việc.

Biểu đồ phân bố tỉ lệ cảm nhận căng thẳng nhiệt theo giới tính, tuổi và thời gian làm việc có thể minh họa rõ nét sự khác biệt giữa các nhóm. Bảng phân tích mối liên quan giữa các yếu tố cá nhân, điều kiện làm việc và cảm nhận căng thẳng nhiệt giúp xác định nhóm nguy cơ cao để can thiệp kịp thời.

Nghiên cứu cũng chỉ ra sự thiếu hụt về thời gian nghỉ ngơi và điều kiện làm việc phù hợp, làm trầm trọng thêm tình trạng căng thẳng nhiệt. So với các nghiên cứu trước đây, kết quả này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc điều chỉnh thời gian làm việc, cải thiện trang phục bảo hộ và môi trường làm việc nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đến NVYT.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Bổ sung và đa dạng hóa trang phục bảo hộ: Các trung tâm y tế cần trang bị đầy đủ các loại PTPHCN, đặc biệt là bộ quần áo rời để giảm gánh nặng nhiệt, đảm bảo phù hợp với từng ca làm việc và điều kiện thời tiết.

  2. Tổ chức phân công lao động hợp lý: Cần xây dựng chính sách phân công công việc phù hợp với sức khỏe và đặc điểm cá nhân của NVYT, hạn chế thời gian làm việc liên tục trên 8 giờ, đồng thời bố trí thời gian nghỉ ngơi hợp lý trong ca làm việc.

  3. Cải thiện điều kiện môi trường làm việc: Thiết lập khu vực nghỉ ngơi có điều hòa hoặc quạt mát, cung cấp đủ nước uống và các biện pháp giảm nhiệt độ tại nơi làm việc nhằm giảm thiểu căng thẳng nhiệt.

  4. Đào tạo và nâng cao nhận thức: Tổ chức các khóa tập huấn về nhận biết dấu hiệu căng thẳng nhiệt, biện pháp phòng tránh và xử trí kịp thời cho NVYT, đồng thời khuyến khích NVYT chủ động áp dụng các biện pháp giảm nhiệt cá nhân.

Các giải pháp trên nên được triển khai ngay trong vòng 6 tháng tới, với sự phối hợp giữa Sở Y tế, các trung tâm y tế và các tổ chức công đoàn ngành y tế nhằm đảm bảo hiệu quả và bền vững.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Nhân viên y tế tuyến huyện: Giúp hiểu rõ về tác động của PTPHCN đến sức khỏe và hiệu suất làm việc, từ đó chủ động áp dụng biện pháp phòng tránh căng thẳng nhiệt.

  2. Quản lý y tế và lãnh đạo trung tâm y tế: Cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng chính sách phân công lao động, trang bị bảo hộ và cải thiện điều kiện làm việc cho NVYT.

  3. Nhà nghiên cứu và sinh viên ngành y tế công cộng: Là tài liệu tham khảo quý giá về nghiên cứu thực trạng căng thẳng nhiệt trong bối cảnh đại dịch, phương pháp nghiên cứu và phân tích dữ liệu.

  4. Cơ quan quản lý y tế và chính sách: Hỗ trợ xây dựng các hướng dẫn, quy định về sử dụng PTPHCN và bảo vệ sức khỏe NVYT trong các tình huống dịch bệnh tương lai.

Câu hỏi thường gặp

1. Căng thẳng nhiệt là gì và tại sao NVYT dễ bị ảnh hưởng?
Căng thẳng nhiệt là tình trạng cơ thể bị áp lực do nhiệt độ da và nhiệt độ lõi tăng cao khi không thể tản nhiệt hiệu quả. NVYT dễ bị ảnh hưởng do phải mặc PTPHCN kín, ngăn cản sự bay hơi mồ hôi và làm tăng nhiệt độ cơ thể, đặc biệt trong điều kiện thời tiết nóng ẩm.

2. Những yếu tố nào làm tăng nguy cơ căng thẳng nhiệt ở NVYT?
Giới tính nữ, tuổi dưới 40, thời gian làm việc dài (≥ 60 giờ/tuần), mặc bộ trang phục liền thân, thời gian ca làm việc và thời gian mặc PTPHCN kéo dài là những yếu tố làm tăng nguy cơ căng thẳng nhiệt.

3. Căng thẳng nhiệt ảnh hưởng như thế nào đến sức khỏe và công việc của NVYT?
Căng thẳng nhiệt gây ra các triệu chứng như chóng mặt, mệt mỏi, đau đầu, đổ mồ hôi nhiều, giảm tập trung, làm suy giảm hiệu suất làm việc và tăng nguy cơ tai nạn lao động.

4. Làm thế nào để giảm thiểu căng thẳng nhiệt khi sử dụng PTPHCN?
Có thể giảm thiểu bằng cách sử dụng trang phục bảo hộ phù hợp, tổ chức thời gian làm việc và nghỉ ngơi hợp lý, cải thiện điều kiện môi trường làm việc, cung cấp đủ nước uống và đào tạo nhận thức về phòng tránh căng thẳng nhiệt.

5. Nghiên cứu này có thể áp dụng cho các tỉnh khác không?
Mặc dù nghiên cứu tập trung tại tỉnh Vĩnh Long, các kết quả và khuyến nghị có thể áp dụng tương tự cho các tỉnh có điều kiện khí hậu nóng ẩm và tình hình dịch bệnh tương tự, giúp cải thiện sức khỏe và hiệu quả công tác của NVYT.

Kết luận

  • 86,8% NVYT tuyến huyện tại Vĩnh Long cảm nhận căng thẳng nhiệt khi mặc PTPHCN trong phòng chống dịch COVID-19, với 92,3% cảm thấy không thoải mái.
  • Các yếu tố như giới tính nữ, tuổi dưới 40, thời gian làm việc dài và loại trang phục liền thân làm tăng nguy cơ căng thẳng nhiệt.
  • Căng thẳng nhiệt ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe và hiệu suất làm việc của NVYT, gây ra các triệu chứng mệt mỏi, đau đầu và giảm tập trung.
  • Nghiên cứu đề xuất các giải pháp cụ thể về trang phục, phân công lao động, cải thiện môi trường làm việc và đào tạo nhận thức nhằm giảm thiểu căng thẳng nhiệt.
  • Các bước tiếp theo bao gồm triển khai các khuyến nghị trong vòng 6 tháng tới và mở rộng nghiên cứu để đánh giá hiệu quả các biện pháp can thiệp.

Luận văn này là tài liệu tham khảo quan trọng cho các nhà quản lý y tế, NVYT và các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực y tế công cộng, góp phần nâng cao sức khỏe và an toàn lao động trong bối cảnh dịch bệnh hiện nay.