Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Luận án. Chương 2: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về thực hiện cam kết lao động trong hiệp định thương mại tự do. Chương 3: Thực hiện cam kết về lao động trong NAFTA của Mexico. Chương 4: Hàm ý và bài học đối với Việt Nam trong thực hiện cam kết lao động của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.
6 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tình hình nghiên cứu ngoài nƣớc NAFTA là FTA đầu tiên được ký giữa các nước phát triển với một nước đang phát triển và cũng là FTA đầu tiên có cam kết về lao động. Điều này tạo ra sự quan tâm của rất nhiều học giả, các nhà nghiên cứu, các nhà hoạt động xã hội, các viện nghiên cứu, trường đại học, các cơ quan và tổ chức chính phủ và phi chính phủ … trên toàn thế giới. Vì vậy, nguồn tài liệu phục vụ nghiên cứu đề tài này vô cùng đa dạng và phong phú ở mọi khía cạnh liên quan.
Có thể thấy một số hướng nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước về vấn đề liên quan đến luận án như sau: Nghiên cứu về tiêu chuẩn lao động Tiêu chuẩn lao động (TCLĐ) ra đời là để xóa bỏ quan niệm “lao động là hàng hóa. Nguồn tài liệu chính phải kể tới là nguồn của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) với tư cách là tổ chức xác lập ra các TCLĐ quốc tế và các ấn phẩm xuất bản của ILO về tất cả các TCLĐ quốc tế được xác lập từ khi ILO ra đời (1919) cho đến nay [110]. Có rất nhiều các nghiên cứu về việc thực hiện các TCLĐ, trong đó đề cập đầy đủ các khía cạnh như: việc sửa đổi pháp luật lao động quốc gia cho phù hợp với TCLĐ [170], [87]; các nước có xu hướng phê chuẩn những TCLĐ đã tương thích với pháp luật trong nước [87], [88]; và ngay cả như vậy, các nghiên cứu đều khẳng định: giữa phê chuẩn với thực tiễn thực hiện vẫn còn là một khoảng cách [151], [174]; trong đó lý do chính được nêu ra là: (i) do thiếu ý chí chính trị của các quốc gia liên quan [107], [97], đặc biệt tại các nước đang phát triển [198]; hoặc (ii) do lo ngại ảnh hưởng tới thu hút đầu tư [174]; hay (iii) lo ngại ảnh hưởng tới chủ quyền quốc gia [134]. Vì vậy, trong rất nhiều trường hợp, việc thực thi TCLĐ chỉ mang tính chiếu lệ và các vi phạm TCLĐ diễn ra khá phổ biến trên phạm vi toàn thế giới [118].
Nguồn tài liệu về Mexico liên quan tới thực hiện TCLĐ ở Mexico khá nhiều [240], [242], [243], [249], [255], [257], [260], [262],… Nội dung các cam kết về 7 lao động trong NAFTA chủ yếu dựa vào các TCLĐ quốc tế. Các cam kết về lao động và cơ chế thực thi các cam kết có thể được phân tích từ chính nội dung của NAFTA [145]. Các nghiên cứu về lý thuyết tự do thương mại của Adam Smith, Ricarrdo, Heckscher-Ohlin đều khẳng định vai trò của TCLĐ trong việc tạo ra lợi thế so sánh quốc gia liên quan tới năng suất lao động, nguồn lao động, số lượng và chất lượng lao động, môi trường và hiệu quả áp dụng TCLĐ,… [43], [108], [220], [267]. Nhiều nghiên cứu thực nghiệm phân tích về TCLĐ thấp và TCLĐ cao tác động tới quốc gia, đem lại cả lợi ích cũng như bất lợi cho quốc gia như thế nào [33], [39], [43], [55], [97], [159], [177], [246], ví dụ TCLĐ thấp giúp thu hút đầu tư nhưng lại cản trở xuất khẩu do đòi hỏi của khách hàng hiện nay về việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp hoặc do phản ứng của nhà đầu tư khi chất lượng lao động không đáp ứng yêu cầu; hay TCLĐ cao giúp đem lại hiệu quả kinh tế nhưng lại ảnh hưởng tới lợi ích kinh tế trước mắt, v.
Có thể thấy vai trò của TCLĐ đối với hiệu quả kinh tế được khẳng định trong nhiều nghiên cứu theo các mô hình khác nhau [29], [81], [83], [135], [169], [176], [245],…điển hình là đóng góp tăng năng suất lao động [41], [53], [138], [148], … đóng góp cho hình ảnh, uy tín và lợi ích doanh nghiệp [33], [44], [59], [81], [136], [143], [146] [169], [245],….Đặc biệt bước vào cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, TCLĐ càng đóng vai trò quan trọng hơn trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên mới [75], [117], [124], [136], [138], [175], [182], [228].…Ngoài ra, TCLĐ cũng có vai trò đặc biệt trong ổn định chính trị, trong bối cảnh đòi hỏi dân chủ ngày càng cao. Các nghiên cứu cũng cho thấy quan điểm của các nước phát triển và đang phát triển trong việc áp dụng TCLĐ [30], [31], [40], [56], [77], [134], [172], ví dụ: các nước phát triển coi cạnh tranh bằng TCLĐ thấp là không công bằng, trong khi các nước đang phát triển cho rằng do trình độ phát triển kinh tế thấp, nên không thể tham gia nền kinh tế toàn cầu bằng việc áp dụng TCLĐ ngang bằng với các nước phát triển. Quan điểm ủng hộ hay phản đối TCLĐ trong quan hệ thương mại cũng được phân tích trong các tài liệu này. Mặc dù vẫn còn sự phản đối, song TCLĐ 8 ngày càng trở nên quan trọng trong các mối quan hệ quốc tế hiện nay, kể cả trong lĩnh vực chính trị, kinh tế, thương mại hay các lĩnh vực khác.
Nghiên cứu về quá trình gắn lao động với thương mại Mối quan hệ giữa TCLĐ và thương mại quốc tế đã trở thành vấn đề quan trọng trong quan hệ giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển trong vòng hai thập kỷ qua. Có hai quan điểm ủng hộ việc gắn lao động với thương mại. Quan điểm thứ nhất xuất phát từ khía cạnh kinh tế, lập luận rằng: thương mại quốc tế cần bình đẳng về điều kiện sản xuất ra hàng hóa để đảm bảo thương mại hàng hóa được cạnh tranh công bằng. Không thể cạnh tranh giữa hàng hóa sản xuất trong điều kiện lao động thấp với hàng hóa cạnh tranh trong điều kiện lao động cao.
Quan điểm thứ hai xuất phát từ khía cạnh xã hội cho rằng: phát triển kinh tế là vì con người; con người sản xuất ra của cải vật chất phải được bảo vệ chống lại sự lạm dụng về điều kiện làm việc và sự bóc lột về tiền lương. Quá trình toàn cầu hóa phải bền vững về mặt xã hội và phải bảo đảm tự do hóa thương mại đóng góp cải thiện và nâng cao TCLĐ chứ không bào mòn đi các TCLĐ [109]. Các nhóm ủng hộ gắn lao động với thương mại thường là những người hoạt động trong lĩnh vực lao động, xã hội và công đoàn ở các nước phát triển trước đây cho đến ngày nay, và cả ở các nước đang phát triển hiện nay. Mong muốn của họ là thực hiện TCLĐ sẽ là liều thuốc bảo vệ “sức khỏe cho người lao động và thúc đẩy phát triển xã hội.
Ý tưởng gắn lao động với thương mại đầu tiên được đề xuất dưới dạng “Điều khoản xã hội trong khung hiệp định của Tổ chức Thương mại Quốc tế (WTO) với mong muốn sử dụng cơ chế thực thi chặt chẽ của WTO để thúc đẩy TCLĐ. Nhiều nghiên cứu khẳng định điều này này, trong đó có nghiên cứu của Elliott và Freeman [84], Robert và Gerado [165], Robert và Makua [166]. Các nước phát triển ủng hộ điều này vì mong muốn tạo ra một sân chơi bình đẳng trong nền kinh tế toàn cầu, ngăn chặn cạnh tranh không bình đẳng bằng TCLĐ thấp, thể hiện ở các nghiên cứu của Aleo [30], Anurradha và Dutta [31], và Busse[56]. Tuy nhiên, WTO không đạt được đồng thuận về vấn đề này bởi có quá nhiều ý kiến khác nhau[128].
Vì vậy, các nước chuyển hướng sang đàm phán các FTA song 9 phương và khu vực, và cuối cùng, ý tưởng này đã thành công thông qua FTA đầu tiên có cam kết về lao động là NAFTA năm 1994. Ngược với quan điểm ủng hộ, xuất phát từ khía cạnh hiệu quả kinh tế, các nhà kinh tế học và giới sử dụng lao động phản đối gắn lao động với thương mại vì lo ngại điều này làm cản trở thương mại. Rất nhiều nghiên cứu đề cập tới luận điểm này như nghiên cứu của Barry và Reddy [38], Elliott và Freeman [84], Trung tâm nghiên cứu lao động của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) [109], hay nghiên cứu của chính Tổ chức giới chủ quốc tế (IOE) [118],. Ngay cả các nước đang phát triển, nơi thường có TCLĐ thấp hơn các nước phát triển, cũng phản đối vì cho rằng không thể áp dụng TCLĐ ngang bằng với các nước phát triển, thể hiện qua nghiên cứu của Anuradha và Dutta [31], Basu [40], Lee[134], Robert và Katherine [167].
Có ý kiến phản đối bởi vì họ không tin vào hiệu quả thực chất của cam kết lao dộng đưa vào FTA, cho rằng: đây chỉ là “làm hàng (window dressing) hoặc thậm chí cho rằng: đây chỉ là chủ nghĩa bảo hộ trá hình, hay vì mục đích thúc đẩy dân chủ hóa chính trị, mặc dù không rõ là nhóm nào đưa ra ý kiến này và cũng không thấy đưa ra các ví dụ cụ thể, được chỉ ra trong nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu về lao động của ILO [109], hay nghiên cứu của Kimberly và Elliott [128]. Mỹ là nước đi đầu trong ý tưởng gắn lao động với thương mại và luôn đóng vai trò quan trọng, dẫn dắt trong tiến trình này [72], [95], [158]. Mọi nghiên cứu đều khẳng định cam kết lao động đưa vào NAFTA bắt nguồn từ Công đoàn Mỹ. Nghiên cứu của Juan [123], và Stephen và Virginia [184] chỉ ra rằng công nhân và công đoàn Mỹ lo ngại mức lương thấp và TCLĐ thấp ở Mexico sẽ kéo các công ty Mỹ sang Mexico và làm mất việc làm ở Mỹ [90], [183].
Đồng quan điểm này, nghiên cứu của Juan [123], và Stephan[184] cho rằng Mexico cạnh tranh bằng TCLĐ thấp nên cần có một thỏa thuận về việc đảm bảo TCLĐ trong NAFTA. Bản thân Mexico mong muốn thiết lập quan hệ thương mại với Mỹ và Canada để cải cách kinh tế trong nước nên sẵn sàng chấp nhận đưa cam kết về lao động vào NAFTA [98]; Thực tiễn cho thấy cam kết lao động đưa vào NAFTA phần nào cải thiện quyền lao động ở Mexico mặc dù chưa được như mong muốn [240]. 10 Dù thế nào đi nữa, cho đến nay, FTA có cam kết về lao động đã trở thành phổ biến, thành xu thế [109] và được sự ủng hộ của công chúng trên toàn cầu với mục tiêu phát triển bền vững [39], [89].