CHƯƠNG 1 NGUYÊN NGỌC VỚI CẢM HỨNG LÃNG MẠN – ANH HÙNG TRONG VĂN HỌC CÁCH MẠNG VIỆT NAM 1945-1975 1.Cảm hứng và cảm hứng sáng tạo trong văn học 1.1 Về khái niệm cảm hứng Sáng tạo văn học nghệ thuật thuộc lĩnh vực sản xuất tinh thần và theo phương thức riêng của mỗi người nghệ sĩ. Văn học nghệ thuật phản ánh đời sống xã hội, hay nói cách khác đời sống xã hội là nguồn cảm hứng cho các nhà văn. Trong sự nghiệp sáng tác của mình, nhà văn Nguyên Ngọc luôn nhất quán một lý tưởng về anh hùng – phải là anh hùng. Do đó, mảng đề tài xuyên suốt hành trình sáng tác của ông là cảm hứng lãng mạn – anh hùng.
Nó trở thành nguồn cảm hứng chủ đạo trong sáng tạo của Nguyên Ngọc. Như chúng ta đã biết, để có một tác phẩm văn học nghệ thuật thì phải trải qua một quá trình sáng tạo của nhà văn, bắt đầu từ khi nảy sinh những dự tính rồi sau đó là quá trình nảy sinh những quan niệm mang tư tưởng sáng tạo của tác phẩm văn học, những tư tưởng ấy thường gắn liền với sự cảm thụ của nhà văn với cuộc sống dưới hình thức cảm xúc. Bởi vậy, các nhà nghiên cứu văn học khẳng định: “Cảm hứng – trạng thái tâm lí then chốt và bao trùm trong sáng tác của nhà văn” [57;209]. Nhà phê bình V.Biêlinxky đã xác định vai trò và nguồn gốc của tư tưởng trong tác phẩm: “Trong những tác phẩm nghệ thuật chân chính, tư tưởng đâu phải là một khái niệm trừu tượng được thể hiện một cách giáo điều mà nó là linh hồn của chúng, nó chan hòa trong chúng như ánh sáng chan hòa trong pha lê.
Trong những tác phẩm nghệ thuật, tư tưởng là cảm hứng chủ đạo của chúng, cảm hứng chủ đạo là gì ?. Đó là sự thâm nhập say mê về sự ham thích một tư tưởng nào đó, mỗi tác phẩm nghệ thuật phải là kết quả cảm hứng chủ đạo phải thấm đượm nó. Thiếu cảm hứng chủ đạo thì không thể hiểu được là cái gì đã buộc nhà thơ cầm bút và cung cấp cho anh ta sức 14 lực và khả năng khởi đầu và kết thúc một tác phẩm đôi khi khá đồ sộ” [6;111]. Cảm hứng được biểu hiện rõ nhất khi nhà văn bắt đầu viết, bởi cảm hứng là trạng thái tâm lý đặc biệt khi sức chú ý được tập trung cao độ, kết hợp với cảm xúc mãnh liệt, tạo điều kiện để óc tưởng tượng, sáng tạo hoạt động có hiệu quả.
Cảm hứng chính là hứng thú sáng tạo, sự thôi thúc sáng tạo. Hêghen và Bêlinxki đều dùng từ “cảm hứng” để: “Chỉ trạng thái hưng phấn cao độ của nhà văn do việc chiếm lĩnh được bản chất của cuộc sống mà họ miêu tả. Sự chiếm lĩnh ấy bao giờ cũng bắt nguồn từ lý tưởng xã hội của nhà văn nhằm phát triển và cải tạo thực tại” [88;141]. Còn theo Pôxpêlốp thì cảm hứng là: “Sự lý giải, đánh giá sâu sắc và chân thực – lịch sử đối với tính cách được miêu tả vốn nảy sinh từ ý nghĩ dân tộc khách quan của các tính cách ấy là cảm hứng tư tưởng sáng tạo của nhà văn và của tác phẩm của nhà văn” [88;141].
A Puskin đã định nghĩa cảm hứng một cách chính xác và giản dị như sau: “Cảm hứng là trạng thái tâm hồn thích hợp cho sự tiếp nhận một cách sinh động những ấn tượng, do đó, cho sự lĩnh hội một cách nhanh chóng những ý niệm tức là những cái tạo điều điện cho sự giải thích những ấn tượng nói trên”. Trần Đình Sử đưa ra quan niệm về cảm hứng: “Cảm hứng là một tình cảm mạnh mẽ, mang tư tưởng, là một ham muốn tích cực đưa đến hành động. Điều quan trọng là cần nhận ra cảm hứng như một lớp nội dung đặc thù của tác phẩm văn học” và “Cảm hứng trong tác phẩm trước hết là niềm say mê khẳng định chân lý, lý tưởng, phủ định sự giả dối mà mọi hiện tượng xấu xa, tiêu cực là thái độ ca ngợi, đồng tình với nhân vật chính diện, là sự phê phán tố cáo các thế lực đen tối, các hiện tượng tầm thường” [57;268]. Như vậy, cảm hứng là một trong những yếu tố chính hợp thành tư tưởng tác phẩm.
Không có cảm hứng thì không tạo ra được sự lao động nghệ thuật nghiêm túc.Pautopxki nhấn mạnh: “Cảm hứng là trạng thái lao động nghiêm túc, nhưng nó có màu sắc thơ riêng biệt của nó … cảm hứng đi vào 15 tâm hồn chúng ta giống như buổi sáng mùa hạ rực rỡ mới rũ khỏi thân mình sương mù của một đêm yên ả,… Cảm hứng giống như mối tình đầu, khi tim ta rộn ràng cảm thấy trước những cuộc gặp gỡ ly kỳ, đôi mắt đẹp tuyệt trần, những câu nói ngập ngừng dang dở” [89;63]. Bởi vậy: “Cảm hứng là trạng thái tâm lý căng thẳng nhưng say mê khác thường. Sự căng thẳng của ý chí và trí tuệ, sự dồi dào về cảm xúc, khi đã đến sự hài hòa, kết tinh, sẽ cháy bùng trong tư duy nghệ thuật của nhà văn, dẫn dắt họ đến những mục tiêu da diết bằng con đường gần như trực giác, bản năng” [57;210]. Về cảm hứng sáng tạo trong văn học Văn học thuộc lĩnh vực văn hóa – tinh thần.
Nhà văn sáng tạo ra các tác phẩm văn học, được gọi là sản xuất về tinh thần. Mặt khác, nếu như các thành phẩm của các ngành lao động mang tính vật chất thì tác phẩm văn học nghệ thuật lại chứa đựng tình cảm chủ quan của chủ thể sáng tạo. Chính vì vậy cảm hứng sáng tạo của người nghệ sĩ phải thật mãnh liệt. Không có cảm hứng sáng tạo chỉ là miễn cưỡng, một thói quen mà thôi: “… không có cảm hứng mà miễn cưỡng viết, chẳng qua là để tập một thói quen.
Và đó chính là con đường động não, tích lũy sẽ dẫn đến cảm hứng thật sự. Cho nên tuy có nhanh chậm, cao thấp, kéo dài hoặc chóng tan khác nhau, nhưng sáng tác văn học nghệ thuật không thể không có cảm hứng. Viết văn là gan ruột, tâm huyết, chỉ bộc lộ những gì đã thật sự tràn đầy trong lòng, không thể cho ra những sản phẩm của một tâm hồn bằng lặng, vô vị miễn cưỡng” [57;210]. Cảm hứng sáng tạo trong văn học vừa là cuộc hành trình nhọc nhằn, vừa là sự nghỉ ngơi thư thái trong tâm hồn nghệ sĩ.
Nó buộc người nghệ sĩ vào trạng thái lao động cẩn trọng bằng niềm say mê, bằng tất cả niềm hứng khởi dưới một cường độ lao động nghiêm túc. Hơn thế nữa, đối với người nghệ sĩ, cảm hứng nghệ thuật là yếu tố đầu tiên dẫn đến sự hình thành của một tác phẩm. Tùy thuộc vào tâm hồn của nghệ sĩ mà cảm hứng đến bất chợt hay có khi phải qua một quá trình nó mới 16 được tích tụ lại. Đó cũng chính là lí do vì sao mà trong cả quá trình sáng tác, cảm thức của nhà văn hiện thực không thay đổi nhưng khi bắt tay vào làm việc thì cảm hứng dấy lên mạnh mẽ, nhà văn sáng tạo, khai thác những ý tưởng mới, táo bạo đưa lại cho tác phẩm một sự mới mẻ cả về nội dung lẫn hình thức.
Tiềm ẩn trong mỗi con người là một tâm hồn nghệ sĩ, đó là khả năng rung động trước cái đẹp trong cuộc sống của chúng ta. Đối với nhà văn, những khoảnh khắc rung động ấy nhiều hơn những người bình thường và cũng mãnh liệt hơn. Những cảm xúc mãnh liệt nhất bộc lộ để trở thành tác phẩm là cảm hứng chủ đạo của nhà văn. Trong “Từ điển thuật ngữ văn học”, các tác giả đã đưa ra khái niệm về cảm hứng chủ đạo như sau: “Cảm hứng chủ đạo là trạng thái tình cảm mãnh liệt, say đắm xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật, gắn với một tư tưởng xác định, một sự đánh giá nhất định, gây tác động đến cảm xúc của những người tiếp nhận tác phẩm”[27;32].
Bêlinxki coi cảm hứng chủ đạo là điều kiện không thể thiếu của việc tạo ra những sáng tác, tác phẩm đích thực, bởi nó “Biến sự chiếm lĩnh thuần túy trí óc đối với tư tưởng thành tình yêu đối với tư tưởng, một tình yêu mạnh mẽ, một khát vọng nhiệt thành”[27;32]. Huỳnh Như Phương đưa ra quan điểm cảm hứng chủ đạo như sau: “Cảm hứng thấm nhuần vào toàn bộ cấu trúc của tác phẩm, vào thế giới hình tượng, bao gồm không gian, thời gian, tính cách nhân vật, vào xung đột, vào cốt truyện, vào ngôn từ và giọng điệu của một bài thơ, một truyện ngắn, một thiên tùy bút hay một cuốn tiểu thuyết ”[29;210]. Chính vì vậy, trong sáng tạo văn học nghệ thuật cảm hứng sáng tạo – nguồn cảm hứng chủ đạo đóng vai trò quyết định giá trị của tác phẩm văn học, bởi nó là kết quả của sự thôi thúc ngay chính trong tâm hồn của tác giả. Tuy nhiên, cảm hứng sáng tạo của nhà văn không phải là một phút say mê bất chợt hay xuất phát từ những xúc cảm tâm linh kì quái mà cảm hứng sáng tạo ở người nghệ sĩ rất đơn giản và thực tế bởi: “Cảm hứng là một trạng thái lao 17 động nghiêm túc của con người.
Sự cao hứng trong tâm hồn không biểu hiện ở điệu bộ phường tùng trong sự bốc đồng” [89;62]. Do vậy, cảm hứng sáng tạo có được của tác giả là: “Kết quả bất ngờ của việc thai nghén lâu dài, suy tư, cấu tứ, tưởng tượng trước đó” [57;211]. Vì thế, nhà văn phải liên tục trau dồi vốn sống, quan sát, khám phá hiện thực cuộc sống cũng như thế giới khách quan để làm giàu cho cảm hứng của mình, nếu không thì cảm hứng sẽ biến mất. Cảm hứng lãng mạn – anh hùng trong văn học cách mạng Việt Nam 1945-1975.
Những tiền đề của sự phát triển nền văn học cách mạng Việt Nam 1945-1975 Cách mạng tháng Tám thành công đã mở ra một thời kì phát triển mới của đất nước trên các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa – giáo dục … Đi cùng với sự phát triển đó, văn học nghệ thuật chuyển sang một bước ngoặt mới và thu được nhiều thắng lợi. Năm 1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận, anh chị em là chiến sĩ trên mặt ấy. Vì Tổ quốc, vì Chủ nghĩa xã hội là phương châm lớn của văn nghệ trong suốt thời kì dài lịch sử. Đường lối văn nghệ đó đã xác định cho người viết lập trường nhân dân, phát huy những truyền thống dân tộc, kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại.
Nhân dân là cội nguồn khơi gợi mọi hoạt động sáng tạo nghệ thuật và nhân dân cũng là đối tượng thưởng thức, tiếp nhận.