Chương 1 CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA KIM LÂN 1. Về khái niệm cảm hứng Phương diện chủ quan của nội dung tư tưởng tác phẩm là lý giải chủ đề, cảm hứng tư tưởng, tình điệu thẩm mỹ. Tư tưởng của tác phẩm bao gồm khuynh hướng triết học, chính trị, đạo đức, khuynh hướng nhận thức, khuynh hướng tình cảm, thẩm mỹ thể hiện trong tác phẩm. Tư tưởng của tác phẩm có quan hệ chặt chẽ với quan niệm về thế giới, với quan niệm về nhân sinh, với tình cảm và thái độ của nhà văn.
Tư tưởng của nhà văn sẽ chi phối sự đánh giá các hiện tượng đời sống trong tác phẩm. Xuất phát từ đặc điểm này, nghiên cứu văn học đã hình thành khái niệm cảm hứng chủ đạo với tư cách là nhân tố tư tưởng trong sáng tạo nghệ thuật. Cảm hứng thường được hiểu là trạng thái tâm lý đặc biệt khi sức chú ý được tập trung cao độ, kết hợp với cảm xúc mãnh liệt, tạo điều kiện để óc tưởng tượng, sáng tạo hoạt động có hiệu quả. Cảm hứng là hứng thú sáng tạo nói chung và sáng tạo văn học nói riêng.
Hê Ghen và Bêlinxki đều dùng từ “cảm hứng” “để chỉ trạng thái hưng phấn cao độ của nhà văn do việc chiếm lĩnh được bản chất của cuộc sống mà họ miêu tả. Sự chiếm lĩnh ấy bao giờ cũng bắt nguồn từ lý tưởng xã hội của nhà văn nhằm phát triển và cải tạo thực tại” [dẫn theo 74, tr. Theo Pôxpêlốp thì cảm hứng là “sự lý giải, đánh giá sâu sắc và chân thực - lịch sử đối với tính cách được miêu tả vốn nảy sinh từ ý nghĩa dân tộc khách quan của các tính cách ấy là cảm hứng tư tưởng sáng tạo của nhà văn và của tác phẩm của nhà văn” [74, tr. Cảm hứng là một phương diện chủ quan thuộc về nội dung tư tưởng tác phẩm.
Lênin từng viết trong bút ký triết học: “Tư tưởng - đó là 17 nhận thức và khát vọng (mong muốn) của con người” [dẫn theo 57, tr. Cùng quan điểm với Lênin, Pôxpêlốp khẳng định: Tư tưởng của tác phẩm văn học là sự thống nhất tất cả các mặt nội dung của nó như hệ đề tài, hệ vấn đề và sự đánh giá tư tưởng - cảm xúc đối với cuộc sống, đó là tư tưởng khái quát, tư tưởng bằng hình tượng, bằng cảm xúc của nhà văn. Tư tưởng đó thể hiện cả ở sự lựa chọn, cả ở sự lý giải và cả ở sự đánh giá các tính cách [74, tr. Nội dung tư tưởng tác phẩm văn học luôn gắn liền với cảm xúc mãnh liệt.
Nhà phê bình Bêlinxki nói: “Tư tưởng thơ, đó không phải là phép tam đoạn thức, không phải là giáo điều, không phải là qui tắc, mà là một ham mê sống động, đó là cảm hứng” [dẫn theo 57, tr. Bêlinxki giải thích rõ hơn: “Trong cảm hứng nhà thơ là người yêu tư tưởng như yêu cái đẹp, yêu một sinh thể sống, thấm nhuần tư tưởng một cách nhiệt tình” [dẫn theo 57, tr. Cụ thể các quan điểm của Bêlinxki, Trần Đình Sử đưa ra quan điểm về cảm hứng: Cảm hứng là một tình cảm mạnh mẽ, mang tư tưởng, là một ham muốn tích cực đưa đến hành động. Điều quan trọng là cần nhận ra cảm hứng như một lớp nội dung đặc thù của tác phẩm văn học.
Cảm hứng trong tác phẩm trước hết là niềm say mê khẳng định chân lý, lý tưởng, phủ định sự giả dối mà mọi hiện tượng xấu xa, tiêu cực là thái độ ngợi ca, đồng tình với nhân vật chính diện, là sự phê phán tố cáo các thế lực đen tối, các hiện tượng tầm thường [57, tr. Với tính chất là một trong những yếu tố hợp thành tư tưởng tác phẩm, Hêghen xem cảm hứng chủ đạo như là “ trung tâm điểm ”, “ vương quốc sự thật” của nghệ thuật. Ông cho rằng: Cảm hứng chủ đạo là biểu hiện của tâm hồn người nghệ sĩ say mê thâm nhập vào bản chất của đối tượng, trở thành tương ứng với nó, gần 18 như là xuyên suốt vào nó. Theo ông, cảm hứng chủ đạo cần được xem như là một sản phẩm của “một tinh thần phong phú và hoàn thiện, một cá tính mà trong đó tất cả những lực lượng bản thể phổ quát đều được thực hiện” [dẫn theo 20, tr.
Về khái niệm cảm hứng chủ đạo, Bêlinxki quan niệm cụ thể hơn: Trong những tác phẩm thi ca (hiểu theo nghĩa rộng: tác phẩm nghệ thuật - người soạn) đích thực, tư tưởng không phải là một khái niệm trừu tượng, được diễn tả một cách giáo điều, mà nó tạo thành linh hồn toả vào trong tác phẩm, giống như ánh sáng chiếu vào pha lê. Tư tưởng trong sáng tạo thi ca - đó chính là cảm hứng… Cảm hứng là sự thiết tha và nhiệt tình nồng cháy gợi nên bởi một tư tưởng nào đó [dẫn theo 20, tr. Cũng với quan điểm trên, Bêlinxki viết: Nghệ thuật không cho phép thâm nhập vào nó những tư tưởng triết học trừu tượng, những tư tưởng lý tính; tư tưởng thi ca - đó không phải là một thứ tam đoạn luận, không phải là giáo điều, không phải là qui luật; đó là nhiệt tình sinh động. Cảm hứng biến sự nhận thức của trí tuệ về một tư tưởng nào đó trở thành niềm say mê đối với tư tưởng đó, trở thành năng lượng và thành khát vọng nồng nhiệt [dẫn theo 20, tr.
Từ những quan điểm trên, Bêlinxki đặt ra yêu cầu phải nghiên cứu cảm hứng chủ đạo của nhà văn trong tác phẩm để tìm hiểu đặc điểm sáng tác của nhà văn ấy: “Công việc đầu tiên, nhiệm vụ đầu tiên của người phê bình là giải đoán cảm hứng chủ đạo của tác phẩm” [dẫn theo 20, tr. Về khái niệm cảm hứng chủ đạo, Huỳnh Như Phương đưa ra quan điểm: Cảm hứng chủ đạo thấm nhuần vào toàn bộ cấu trúc của tác phẩm, vào thế giới hình tượng, bao gồm không gian, thời gian, tính cách nhân vật, 19 vào xung đột và cốt truyện, vào ngôn từ và giọng điệu của một bài thơ, một truyện ngắn, một thiên tuỳ bút hay một cuốn tiểu thuyết [20, tr. Từ quan điểm này, tác giả khẳng định: “Việc tìm hiểu cảm hứng chủ đạo không phải chỉ căn cứ trên một bộ phận, một thành tố nào, mà phải căn cứ trên toàn bộ lô gích nghệ thuật của tác phẩm” [20, tr. Như vậy, cảm hứng là một trong những yếu tố chính hợp thành tư tưởng của tác phẩm.
Cảm hứng chủ đạo được xem là “trung tâm điểm”, là “vương quốc sự thật” của nghệ thuật. Cảm hứng chủ đạo không chỉ toát ra từ tác phẩm mà còn xuyên suốt toàn bộ sáng tác của một tác giả. Cảm hứng chủ đạo trong truyện ngắn của Kim Lân 1. Động lực thúc đẩy sáng tác và ngọn nguồn, đối tượng tạo nên cảm hứng trong truyện ngắn của Kim Lân Nhà văn Kim Lân từng kể về đời mình: Tôi không được học đến nơi đến chốn.
Đang học lớp nhất ở trường huyện thì bố tôi mất, tôi bỏ nhà xuống Hải Phòng tìm việc làm, không được, lại quay về làng. Tôi đi học nghề sơn guốc của một ông hoạ sĩ làng bên. Trong sự rẻ rúng của gia đình (ông là con trai người vợ ba cụ thân sinh), nhiều bạn bè đồng học vẫn đi, đèn sách nhởn nhơ, tôi buồn bực vô cùng. Đúng ra là tự ái.
Tự nhiên tôi nhìn xung quanh thấy nhiều sự nhăng nhít, vô lý và nhất là lòng ham viết, thích viết của tôi lại càng nung nấu [54, tr. Theo cách nói của Lữ Huy Nguyên “cái ý nghĩ cương quyết, ngây thơ: ta chẳng kém gì các người” của anh thợ sơn guốc đã đưa Kim Lân đến với nghề văn. Như vậy, Kim Lân viết văn trước hết có hai động lực khởi nguồn: lòng “ham viết, thích viết” và “nhiều sự nhăng nhít, vô lý” của cuộc sống xung quanh nhà văn lúc ấy. Mặc nhiên, việc cầm bút viết văn của người thợ sơn guốc đó có ý nghĩa lớn lao, mang tính nhân đạo và nhân văn 20 là “đòi cho mình một thân phận, một nhân phẩm, một chỗ đứng trong cuộc sống nhỏ bé quẩn quanh của quê hương” [54, tr.
Và “người thợ sơn guốc” ấy đã có truyện ngắn đầu tay đăng trên báo Trung Bắc chủ nhật số 120 ra ngày 26-7-1942. Đó là truyện Đứa con người vợ lẽ thấm đẫm tính chất tự truyện. Cái “nhăng nhít, vô lý ” từ cảnh ngộ của bản thân mình đến cái “nhăng nhít, vô lý” ở xung quanh dần dần được Kim Lân đưa vào các truyện của mình (Nỗi này ai có biết - 1943, Cơm con - 1943,…). Những trang viết theo cuộc đời, càng ngày nhà văn càng mở rộng không gian nghệ thuật trong các truyện của mình, từ một số mặt của cuộc sống ở vùng quê quen thuộc của những lớp người “đầu thừa đuôi thẹo” (chữ của Vương Trí Nhàn) trước năm 1945, đến những con người đói nghèo lam lũ vì miếng cơm tấm áo đổi đời, đi theo cách mạng và kháng chiến sau năm 1945.
Theo trình tự những trang viết của Kim Lân, người đọc có thể thấy nội dung và chất lượng các truyện ngắn cứ mở dần mở dần, cứ cao dần cao dần… 1. Về cảm hứng phê phán trong truyện ngắn của Kim Lân Kim Lân cho rằng “điều quan trọng là văn chương phải thật, phải giản dị” [16, tr. Nhà văn không bằng lòng với thứ văn chương “kêu quá, bóng bẩy quá, cứ như là đánh bóng mạ kền …” [16, tr. Tất nhiên, cái mà Kim Lân gọi là thật là cái thật của văn chương, theo cách văn chương.
Và cái giản dị cũng vậy, nó là cái giản dị nghệ thuật. Bởi vậy, nhìn vào các truyện của Kim Lân viết, người đọc bắt gặp hầu hết là những cảnh những người mà nhà văn đã từng sống, từng quen biết, từng gần gũi và hiểu biết một cách cặn kẽ, sâu sắc. Đó là những làng quê xung quanh quê nhà văn, những con người sinh sống ở các làng quê ấy mà mỗi lần bước chân ra ngõ xóm đường làng là Kim Lân đã gặp. Một vấn đề khác trong sáng tác truyện mà Kim Lân coi trong đó là vấn đề khắc hoạ nhân vật.
Nhà văn nói: “Tôi quan niệm: truyện ngắn cũng là 21 tiểu thuyết và điều quan trọng là nhân vật. Nhân vật phải có tính cách và phải hành động theo tính cách nhân vật một cách tự nhiên, không giả tạo sáo rỗng” [16, tr. Tính cách ở đây là một khái niệm thuộc phạm trù mỹ học của chủ nghĩa hiện thực, nó vạch ra đường biên khu biệt những nét riêng biệt của một (hay một nhóm) đối tượng này so với một (hay một nhóm) đối tượng khác.