Chương 1: Nhận thức chung về cái tôi trữ tình – Sự hình thành cá tính sáng tạo trong thơ Dư Thị Hoàn, Đoàn Thị Lam Luyến, Hoàng Việt Hằng Chương 2: Cái tôi trữ tình trong thơ Dư Thị Hoàn, Đoàn Thị Lam Luyến, Hoàng Việt Hằng nhìn từ phương diện nội dung Chương 3: Cái tôi trữ tình trong thơ Dư Thị Hoàn, Đoàn Thị Lam Luyến, Hoàng Việt Hằng nhìn từ phương diện nghệ thuật. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1: NHẬN THỨC CHUNG VỀ CÁI TÔI TRỮ TÌNH – SỰ HÌNH THÀNH CÁ TÍNH SÁNG TẠO TRONG THƠ DƢ THỊ HOÀN, ĐOÀN THỊ LAM LUYẾN, HOÀNG VIỆT HẰNG. Khái niệm về “cái tôi”, “cái tôi trữ tình” và biểu hiện của cái tôi trữ tình trong thơ ca truyền thống. Cái tôi Chúng ta thường có xu hướng tự nhiên muốn tìm hiểu, khám phá bản chất của các sự vật, hiện tượng trong thế giới bên ngoài, thuộc về tự nhiên và xã hội.
Tuy LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhiên, chúng ta cũng thường quên mất rằng, ngay chính mỗi con người chúng ta mới là một cái gì đó không thể lý giải, thậm chí là một thế giới hoàn toàn bí hiểm. Tôi là gì, là thể xác hay linh hồn, là phần cảm tính, phần lý tính, hay phần ý chí? Câu hỏi về bản chất, về cấu trúc của cái tôi đã và đang là nỗi trăn trở của mỗi con người khát khao tìm hiểu và tìm kiếm sự tồn tại đích thực của mình, thoát khỏi sự trần tục, thế tục của cuộc sống hàng ngày. Cái tôi hay bản ngã là một trong những khái niệm triết học cổ đại nhất đánh dấu ý thức đầu tiên của con người về bản thể tồn tại của mình, từ đó nhận ra mình là một con người khác với tự nhiên, là một cá thể độc lập khác với người khác. Khái niệm cái tôi là một khái niệm có nội hàm rộng, có rất nhiều các khái niệm khác nhau như trong triết học, trong phân tâm học, trong triết lý Phật Giáo…nhưng ở đây chúng tôi chỉ xin dừng lại ở một số quan niệm của triết học về cái tôi vì nó có liên quan trực tiếp và gần gũi với việc tìm hiểu cái tôi trữ tình.
Nhiều nhà triết học đã cố gắng làm sáng tỏ vấn đề này và đưa ra các cách lý giải rất khác nhau từ cách tiếp cận của mình qua việc tiếp thu và phát triển các quan niệm của các nhà tư tưởng trước đó. Theo Đề Các (1596 – 1650), cái tôi thể hiện ra như một cái thuộc về thực thể biết tư duy, như căn nguyên của nhận thức duy lí và do đó, cái tôi thể hiện tính độc lập của mình với định nghĩa nổi tiếng: “tôi tư duy tức là tôi tồn tại”. Theo Kant (1724 – 1804), cái tôi bao gồm hai phương diện: cái tôi với tư cách chủ thể tư duy, chủ thể nhận thức thế giới và cái tôi với tư cách là khách thể của chính nhận thức. Đồng thời Kant cũng nhấn mạnh tuyệt đối khả năng nhận thức của cái tôi: “Tính thống nhất của tự nhiên không phải ở trong tính vật chất của nó mà ở trong tính thống nhất của chủ thể nhận thức, của cái tôi”.
Heghen (1770 – 1831) một mặt xem cái tôi như là sự tha hóa của “ý thức tuyết đối”, một mặt nhấn mạnh vai trò tuyệt đối của cái tôi: cái tôi như là trung tâm tồn tại, cái tôi có khả năng, khát vọng và sức mạnh để thể hiện mình trong hiện thực. Becxong (1858 – 1941) đã chú ý đến cái tôi thuần túy trong ý thức khi nhấn mạnh đến đời sống bên trong cá nhân. Theo ông, trong con người có hai cái tôi: đó LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com là cái tôi bề mặt và cái tôi bề sâu. Trong đó, cái tôi bề mặt là các quan hệ của con người đối với xã hội.
Cái tôi bề sâu là phần sâu thẳm của ý thức. Đó mới chính là đối tượng của nghệ thuật. Các quan điểm duy tâm về cái tôi khẳng định: cái tôi là phương diện trung tâm tinh thần con người, là cốt lõi của ý thức có khả năng chi phối hoạt động và là sự khẳng định nhân cách con người trong thế giới. Tuy nhiên, các quan điểm trên đã tách cái tôi khỏi con người xã hội sinh động, chưa nhìn thấy cơ sở lịch sử cụ thể và tính tích cực của cái tôi.
Đối lập với quan điểm trên, triết học Mác đã xác định giá trị con người cá nhân từ bản thân con người với tư cách là chủ thể và khách thể của các mối quan hệ xã hội. Theo Mác, mỗi cá nhân có ý nghĩa như là một bộ mặt xã hội của con người, như là kết quả của việc xã hội hóa cá thể con người và cá nhân cũng tìm thấy mình trong xã hội. Lý tưởng giải phóng cá nhân của triết học Mác là tự do cho mỗi cái tôi cá nhân trong tự do của tất cả mọi người. Đồng thời vai trò của cái tôi cũng được khẳng định: “cái tôi là trung tâm tinh thần của con người, của cá tính con người có quan hệ tích cực đối với thế giới và với chính bản thân mình”.
Như vậy, quan niệm cái tôi trong triết học đã đóng một vai trò rất quan trọng trong việc nhận thức bản thể của con người, đồng thời nó cũng có mối liên hệ chi phối, quen thuộc với cái tôi trữ tình trong thơ ca các thời đại. Cái tôi trữ tình. Lermôntôp có lần nói về tác phẩm của mình, một bài thơ trữ tình rằng: “Chuyện của tôi chỉ toàn là những tuyệt vọng. Tôi đã lục lọi lại toàn bộ tâm hồn và dốc lộn xộn ra giấy”.Tônstôi thì nói “Nhà văn chỉ quý giá và cần thiết đối với chúng ta trong chừng mực nhà văn thổ lộ với chúng ta cái hoạt động bên trong của tâm hồn mình…, và trong tác phẩm của nhà văn, điều quý giá đối với chúng ta chỉ là cái hoạt động bên trong của tâm hồn nhà văn”.
Có lẽ vì thế mà ClôtBeena đã phân biệt rõ ràng: “Nghệ thuật là tôi, còn khoa học là chúng ta”. Mọi người vẫn thường nói thơ trữ tình là “những bản tốc ký nội tâm” nghĩa là sự tuôn trào của hình ảnh và từ ngữ trong một trạng thái cảm xúc mạnh mẽ của người sáng tạo. Chính vì LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vậy, về bản chất, mọi nhân vật trữ tình trong thơ chỉ là những biểu hiện đa dạng của cái tôi trữ tình. Vậy cái tôi trữ tình là gì? Cái tôi trữ tình là sự thể hiện một cách nhận thức và cảm xúc đối với thế giới và con người thông qua lăng kính cá nhân của chủ thể và thông qua việc tổ chức các phương tiện của thơ trữ tình, tạo ra một thế giới tinh thần riêng biệt độc đáo mang tính thẩm mỹ, nhằm truyền đạt tinh thần đến người đọc.
Bản chất của cái tôi trữ tình là một khái niệm tổng hòa nhiều yếu tố hội tụ theo quy luật nghệ thuật, bao gồm cả ba phương diện cụ thể: bản chất chủ quan cá nhân (đây là mối quan hệ giữa tác giả và cái tôi trữ tình được thể hiện trong tác phẩm); bản chất xã hội của cái tôi trữ tình (đó là mối quan hệ giữa cái tôi trữ tình và cái ta cộng đồng); bản chất thẩm mỹ của cái tôi trữ tình (nó là trung tâm sáng tạo và tổ chức văn bản). Cả ba phương diện biểu hiện của cái tôi trữ tình đều nằm trong hình thức của thể loại trữ tình. Cái tôi trữ tình không chỉ là cái tôi nhà thơ, nó còn là cái tôi thứ hai hoặc cái tôi được khách thể hóa, được thăng hoa trong nghệ thuật và bằng nghệ thuật. Cái tôi trữ tình chính là trung tâm sáng tạo và tổ chức văn bản trữ tình.
Nếu quan niệm một tác phẩm trữ tình là một hệ thống với các cấp độ, các yếu tó thì có thể nói mọi thành tố tạo nên bài thơ, từ các biện pháp tu từ cho đến thể thơ, nhịp và vần điệu…đều nằm trong ảnh hưởng của một trung tâm quy chiếu là cái tôi trữ tình. Văn chương không chỉ là bức tranh đời sống mà còn là bức chân dung tinh thần của chủ thể sáng tạo. Chủ thể không chỉ là người sáng tạo ra những giá trị tinh thần mà còn là đối tượng miêu tả biểu hiện, chủ thể không chỉ được xem như là một yếu tố tạo nên nội dung tác phẩm mà còn được xem như là một phương tiện bộc lộ nội dung của tác phẩm,là một yếu tố của thế giới nghệ thuật do tác phẩm tạo ra. Ở những nhà thơ có cá tính sáng tạo độc đáo, dấu ấn của chủ thể còn in đậm trong từng từ, từng hình ảnh, từng dòng thơ, bài thơ… Mối quan hệ giữa chủ thể với hình tượng nhân vật trữ tình, là những hình thức biểu hiện của chủ thể với tư cách là hình tượng trung tâm của tác phẩm thơ trữ tình.
Mối quan hệ này được biểu hiện thông qua các yếu tố: chủ thể và cái tôi, cá tôi của nhà thơ và cái tôi trữ tình trong tác phẩm. Chủ thể là một phạm trù được xem LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com xét trong mối quan hệ với khách thể, là phạm trù đối lập với khách thể ở tính tích cực, thể hiện ở ý thức, ý chí và khả năng nhận thức, chiếm lĩnh hiện thực khách quan. Cái tôi là yếu tố của chủ thể làm cho chủ thể ý thức được chính mình, là chức năng tự nhận thức của chủ thế. Cái tôi của nhà thơ có mối quan hệ trực tiếp và thống nhất với cái tôi trữ tình trong thơ.
Nhà thơ là nhân vật chính, là hình bóng trung tâm, là cái tôi bao quát trong toàn bộ sáng tác. Những sự kiện, hành động, tâm tình và ký ức trong cuộc đời riêng cũng in đậm nét trong thơ. Cái tôi của nhà thơ có lúc thể hiện trực tiếp qua những cảnh ngộ riêng, trực tiếp giãi bày những nỗi niềm thầm kín. Cái tôi của nhà thơ còn hiện diện qua các cách nhìn, cách nghĩ, qua tình cảm thái độ trước thế giới.
Tuy nhiên, cái tôi trữ tình trong thơ và cái tôi của nhà thơ không hề đồng nhất. Cái tôi của nhà thơ ngoài đời thuộc phạm trù xã hội học, còn cái tôi trữ tình trong thơ thuộc phạm trù nghệ thuật. Cái tôi trữ tình là cái cái tôi nhà thơ đã được nghệ thuật hóa và trở thành một yếu tố nghệ thuật phổ quát trong thơ trữ tình, là một thành tố trong thế giới nghệ thuật của tác phẩm.