Chương I Cái “tôi” chấn thương và những mối liên hệ Trước khi đi vào nghiên cứu trực tiếp cơ chế kiến tạo cái “tôi” chấn thương trong tiểu thuyết “Khởi sinh của cô độc”, trong chương này, chúng tôi sẽ giải quyết các vấn đề lý thuyết cần thiết xoay quanh chấn thương để đi vào làm rõ cơ chế kiến tạo cái “tôi” chấn thương trong tác phẩm của Paul Auster. Các vấn đề bao gồm: mối quan hệ giữa chấn thương và tự truyện, sự xuất hiện của chấn thương trong văn chương Do Thái – Mỹ và các hình thức của văn học hậu hiện đại dung nạp cái “tôi” chấn thương. Chấn thương và tự truyện 1. Chấn thương – những điểm neo của ký ức Thế kỷ XX đầy biến động đã chứng kiến những bước đi sai lầm của lịch sử loài người, để lại biết bao nỗi kinh hoàng cho nhân loại.
Những ký ức bám đuổi, bủa vây lấy con người trở thành những ám ảnh về thần kinh như một trạng thái của bệnh lý. Hiện tượng con người bị đeo bám bởi những chấn động trong quá khứ không phải chỉ là vấn đề riêng của nhân loại thế kỷ XX, nhưng chỉ sau những thảm họa diệt vong của chủ nghĩa phát xít, sự bùng nổ thế chiến II, sự hủy diệt của thời kì kĩ trị,… người ta mới bắt đầu đi lý giải cội nguồn của những nhu cầu thức tỉnh mạnh mẽ, nhìn nhận lại những nỗi khổ đau không thể chấm dứt. Bắt đầu từ thuật ngữ “vết thương” (trauma) trong y học, có gốc nghĩa từ tiếng Hy Lạp chỉ những tổn thương trên cơ thể con người, Sigmund Freud dưới góc độ phân tâm học đã sử dụng nó để gọi tên cho những lỗ hổng và nỗi đau trong tinh thần. Cũng theo đó, khi một sự kiện có tính chất đường đột và vượt quá kinh nghiệm kiểm soát của chủ thể xảy ra, nó sẽ tiếp tục được tái hiện trong suốt quãng thời gian còn lại của cuộc đời, chi phối từng nhận thức, hành động của con người.
Hành động lặp lại dưới sự áp chế của ký ức được gọi là “hành động về sau” (belateness).1 1 “Belateness”: xuất phát từ khái niệm “Nächtraglichkeit”của Sigmund Freud được in trong cuốn “Dự án cho một tâm lý học khoa học” (Project for a Scentific Spychology ) – 1985 [14] 9 Từ nghiên cứu phân tâm học về chấn thương và những lý giải về khái niệm “hành động về sau” của S. Freud, Cathy Caruth đã mở ra một hướng phê bình mới cho văn học của thế kỷ XX: phê bình văn học chấn thương. Hàng loạt các bài viết của bà về chấn thương và văn học như đã bước đầu tạo dựng nền tảng lý thuyết, xác lập những khái niệm, định nghĩa về “chấn thương” trong văn học cũng như cơ chế và trạng thái hoạt động của nó. Trong “Vết thương và giọng nói”(The wound and the voice), từ việc phân tích hành động của Tancred, nhân vật chính của câu chuyện mà Tasso kể trong thiên sử thi lãng mạn Gerusalemme Liberata, Cathy Caruth đã chỉ ra rằng: “Câu chuyện về chấn thương, do đó, là câu chuyện về một thứ kinh nghiệm đến muộn, nó hoàn toàn không phải là sự kể lại việc thoát ly một hiện thực – chạy trốn cái chết, hay áp lực tính quy chiếu của chấn thương, mà đúng hơn, nó là sự chứng nhận cho cái tác động vô hạn của chấn thương lên một cuộc đời.” [11] Như vậy, với sự quy chiếu của mình, chấn thương in hằn dấu vết lên những không gian, thời gian khác sau điểm mốc diễn ra sự kiện gây ám ảnh.
Suốt khoảng thời gian còn lại của cuộc đời, chấn thương vẫn hiện diện như một lỗ khoét không thể hàn gắn và lấp đầy. Liên quan đến chấn thương và các tự sự xung quanh nó, Amos Goldberg đã đề xuất một góc độ tiếp cận khác song vẫn cho ta thấy được sự in dấu của chấn thương trong dòng ký ức miên man của cuộc đời con người. Trong “Chấn thương, tự sự và hai hình thức của cái chết” (Trauma, Narrative and Two Forms of Death) [9], Goldberg chỉ ra chấn thương giống như một điểm mốc có nguy cơ ăn mòn bản thể tự nhiên. Tại thời điểm xảy ra chấn thương, con người đứng trước một khả năng bị “đóng khung” cuộc đời trong những thứ kinh nghiệm tồi tệ, trong những hình thức biểu đạt mà kẻ hủy diệt muốn áp đặt lên họ.
Quãng thời gian sau chấn thương, con người ta luôn cố gắng đi tìm kiếm bản thân trong sự chi phối bởi suy nghĩ rằng cuộc đời mình chỉ gắn liền với trải nghiệm tàn bạo mà họ đã từng kinh qua. Từ những phân tích về khái niệm “chấn thương” trên đây, có thể thấy rằng: Trong chuỗi dài nối các sự kiện liên kết lại với nhau của cuộc đời một con người, chấn thương chính là những điểm neo của dòng ký ức. Tính chất nghiêm trọng và dư chấn mạnh mẽ 10 của một ký ức nào đó sẽ mãi lưu đọng trong não bộ con người. Thực chất, chấn thương mãi mãi ở lại trong cuộc đời của con người.
Nó chiếm lấy một vị trí trong ký ức để rồi tiếp tục di chuyển theo thời gian, quy chiếu lên những khoảng không – thời gian khác… 1. Hậu ký ức – những chấn thương bị giãn cách “Chấn thương” rõ ràng luôn kéo theo những hệ quả liên lụy của nó đối với chủ thể. Ngay tại thời điểm kết thúc sự kiện tạo tác nên “chấn thương”, con người đã phải bước ra khỏi nó, rời bỏ nó như một hành động bắt buộc. Những di chứng liên tục tái diễn như là một cơ chế duy trì chấn thương vĩnh viễn trong thế giới ký ức một con người.
Tuy vậy, chấn thương và những hệ lụy của nó liệu có phải chỉ đeo đuổi và ám ảnh trong cuộc đời của một cá nhân, trong kinh nghiệm của một cá thể hay không? Vấn đề quy chiếu của những chấn thương sẽ trả lời cho câu hỏi này. Trong “Kinh nghiệm không được khẳng định: chấn thương và những khả năng của lịch sử” (Unclaimed Experience: Trauma and The Possibility of Histor) [10], Caruth thông qua việc đọc – hiểu tác phẩm “Moses và Nhất thần luận” (Moses and Monotheism) của Sigmund Freud đã phủ nhận tính quy chiếu trực tiếp, đơn giản của một chấn thương. Và từ câu chuyện Moses giải phóng người Do Thái thoát khỏi mảnh đất Ai Cập được S.Freud hàm ý rằng đó vừa là sự trở về với quá khứ vừa là sự xuất phát đi tới tương lai của tôn giáo nhất thần luận, Caruth đã đưa đến khẳng định tính quy chiếu gián tiếp của chấn thương, mở ra những khả năng của lịch sử. Theo đó, chỉ trong và sau khi “thời kỳ tiềm tàng” (latency)[10], thời kỳ mà hệ quả của những kinh nghiệm chưa phát tác diễn ra, những chấn thương mới bắt đầu sự trải nghiệm của nó.
Và bằng cách thức ấy, tương lai chính là hành trình trải nghiệm của quá khứ chấn thương đã qua. Đồng thời, Caruth cũng chỉ ra lịch sử Do Thái chính là sự chịu đựng những nỗi đau của kẻ khác thông qua bản chất của cuộc hành trình mà người Hebrew thực hiện như là để sửa chữa và hàn gắn chấn thương đến từ mặc cảm tội lỗi giết chết người cha nguyên thủy. Từ sự phân tích của Caruth, ta nhận thấy một chấn thương bắt đầu hoạt động bao giờ cũng đi kèm với sự khởi nguồn quay về quá khứ. Sự khởi nguồn này mặc dù được tái hiện bởi những hình ảnh, sự kiện đã trôi qua song luôn diễn ra trong những phân khu không gian - thời gian của hiện tại và tương lại.
Từ đó, lịch sử bám đuổi hiện tại và tương 11 lai; con người tiếp tục sự sống bằng cách gánh chịu những tội lỗi của kẻ khác gây ra trong quá khứ. Sự quy chiếu của chấn thương không chỉ đi kèm với sự thay đổi không gian, thời gian mà còn kéo theo sự biến đổi trong mối dây liên hệ giữa những con người trong chấn thương ấy. Điều này đồng nghĩa với việc ngoài chủ thể trải nghiệm trực tiếp những chấn thương của bản thân, bao giờ cũng tồn tại một/một vài chủ thể khác liên đới cùng những dư chấn tưởng như không thuộc về họ thông qua mối liên hệ với kẻ sở hữu chấn thương. Lịch sử của chấn thương kéo dài nhờ sự quy chiếu của nó lên những phân vùng khác cùng cái cách mà các chủ thể sở hữu nó liên đới, chịu đựng nỗi đau của nhau.
Để làm sáng rõ thêm tính quy chiếu của chấn thương tạo ra sự gián đoạn và sự liên kết nỗi đau xuyên suốt lịch sử của nhân loại, ta tìm hiểu định nghĩa“hậu ký ức” mà Marianne Hirsch trong “Thế hệ hậu ký ức” (The Generation of Postmemory) đã đưa ra khi nói đến sự tiếp nhận chấn thương lịch sử của thế hệ thứ hai từ sau những trải nghiệm về Holocaust như sau: “Hậu ký ức mô tả mối liên hệ giữa thế hệ thứ hai với những trải nghiệm có sức nặng, thường là những trải nghiệm mang tính chấn thương đã xảy ra trước khi họ ra đời; tuy nhiên chúng vẫn được chuyển giao tới họ một cách đầy mạnh mẽ như để cấu thành nên những ký ức theo quy luật riêng của nó.103] Tại đây, Hirsch đã cho thấy phạm vi nằm ngoài sự biết trong ký ức của chủ thể “hậu ký ức”. Trong dòng ký ức của thế hệ thứ hai, những trải nghiệm chấn thương không đến với họ một cách trực tiếp. Họ bị tước đi tư cách người làm chứng vốn dĩ phải có như một điều kiện bắt buộc để hình thành chấn thương. Những chấn thương bủa vây lấy họ dường như nằm ngoài sự chủ động và mong muốn của bản thân.
“Hậu ký ức” cho thấy khả năng quy chiếu gián tiếp của những chấn thương, vượt ra ngoài vòng vây một cá nhân. Sự chuyển giao thần bí của những ký ức Holocaust đến thế hệ này chính đến từ quá trình tiếp diễn sự sống của họ dựa trên mục đích hàn gắn những mất mát mà thế hệ những người cha, người mẹ từng gánh lấy, chịu đựng những nỗi đau trong quá khứ do tội ác thảm họa mà kẻ khác đã gây ra cho lịch sử nhân loại. 12 “Chấn thương” và “hậu ký ức” là hai khái niệm liên quan đến nhau thông qua sự dắt nối của những giãn cách, của những khoảng trống bỏ ngỏ. Nếu “chấn thương” là những điểm neo trong ký ức của con người thì “hậu chấn thương/hậu ký ức” chính là nơi những điểm neo bị giãn cách về hai mặt: một là sự giãn cách của không – thời gian, hai là sự giãn cách của quá trình chuyển tiếp chủ thể sở hữu, chịu đựng những chấn thương.