Chương 1: Lý luận chung về tổ chức lao động trong Doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng tổ chức lao động tại Bưu điện huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ. Chương 3: Một số biện pháp hoàn thiện công tác tổ chức lao động tại Bưu điện huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ. LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Lao động trong ngành bƣu chính – viễn thông 1.
Vai trò của người lao động trong doanh nghiệp Lao động là hoạt động có mục đích của con ngƣời, là quá trình sức lao động tác động lên đối tƣợng lao động thông qua tƣ liệu sản xuất nhằm tạo nên những vật phẩm, những sản phẩm theo ý muốn. Vì vậy, lao động là điều kiện cơ bản và quan trọng nhất trong sự sinh tồn và phát triển của xã hội loài ngƣời. Quá trình lao động là quá trình kết hợp giữa 3 yếu tố của sản xuất, đó là: Sức lao động - Đối tƣợng lao động - Tƣ liệu lao động. Quá trình lao động hình thành các mối quan hệ giữa lao động với các yếu tố khác của quá trình sản xuất nhƣ: Mối quan hệ giữa con người với đối tượng lao động: ở đây cũng có những mối quan hệ tƣơng tự nhƣ trên, đặc biệt là mối quan hệ giữa kỹ năng, hiệu suất lao động với khối lƣợng chủng loại lao động yêu cầu và thời gian các đối tƣợng lao động đƣợc cung cấp phù hợp với quy trình công nghệ và trình tự lao động.
Mối quan hệ giữa ngƣời với ngƣời trong lao động gồm: Quan hệ giữa lao động quản lý và lao động sản xuất. Quan hệ giữa lao động công nghệ và lao động phụ trợ; Kết cấu từng loại lao động và số lƣợng lao động trong kết cấu đó; Quan hệ hiệp tác giữa các loại lao động. Mối quan hệ giữa tư liệu lao động và sức lao động: Yêu cầu của máy móc thiết bị với trình độ kỹ năng của ngƣời lao động. Yêu cầu điều khiển và công suất thiết bị với thể lực con ngƣời.
Tính chất đặc điểm của thiết bị tác động về tâm sinh lý của ngƣời lao động. Số lƣợng công cụ thiết bị so với số lƣợng lao động các loại. Mối quan hệ giữa người lao động với môi trường xung quanh: Mọi quá trình lao động đều phải diễn ra trong một không gian nhất định, vì thế con ngƣời có mối quan hệ mật thiết với môi trƣờng xung quanh nhƣ: gió, nhiệt độ, thời tiết, địa hình. Nghiên cứu, nắm đƣợc và hiểu rõ các mối quan hệ trên để đánh giá một cách chính xác là vấn đề rất quan trọng, làm cho quá trình sản xuất đạt đƣợc hiệu quả tối 12 z ƣu đồng thời đem lại cho con ngƣời những lợi ích ngày càng tăng về vật chất và tinh thần, con ngƣời ngày càng phát triển toàn diện và có phúc lợi ngày càng cao.
Đối với bất kỳ một doanh nghiệp hay một tổ chức nào cũng đƣợc cấu thành nên bởi các cá nhân, các thành viên là con ngƣời của nó. Trƣớc sự thay đổi nhanh chóng của môi trƣờng kinh doanh cùng với xu thế tự do hoá, cạnh tranh ngày càng gay gắt, vai trò của yếu tố con ngƣời - lao động trong các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp Bƣu chính – Viễn thông nói riêng đã và đang đƣợc quan tâm theo đúng tầm quan trọng của nó. Vấn đề đặt ra cho các doanh nghiệp là phải quản lƣ, khai thác và phát huy tiềm năng của đội ngũ cán bộ, lao động của doanh nghiệp làm sao có hiệu quả, tạo nên đƣợc lợi thế cạnh tranh so với các doanh nghiệp khác. Lực lƣợng lao động này phải là những ngƣời có trình độ cao, đƣợc đào tạo tốt, có đạo đức, có văn hoá và đặc biệt là phải có phƣơng pháp làm việc có hiệu quả.
Đặc điểm của lao động trong ngành bưu chính -viễn thông Lao động trong mỗi ngành, mỗi lĩnh vực sản xuất-kinh doanh đều có những đặc điểm đặc thù của nó. Đặc điểm của lao động trong mỗi lĩnh vực trƣớc hết phụ thuộc vào tính chất, đặc điểm kinh tế, xã hội của của ngành. Lao động trong ngành BCVT cũng không nằm ngoài sự phụ thuộc đó. Do vậy, trƣớc khi tìm hiểu đặc điểm lao động trong ngành BCVT, luận văn phân tích một cách khái quát các đặc điểm của ngành BCVT.
a/ Đặc điểm kinh tế của ngành bưu chính - viễn thông Giai đoạn phát triển của xã hội hiện nay là giai đoạn bùng nổ thông tin, thông tin trở thành một nguồn lực quan trọng của mỗi quốc gia, đƣợc chú ý quan tâm nhƣ một nguồn tài nguyên của đất nƣớc. Ngành Bƣu chính Viễn thông là công cụ phục vụ đắc lực cho sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nƣớc và các cấp chính quyền, trong mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng, văn hóa, ngoại giao, giáo dục… Ngành Bƣu chính Viễn thông tham gia trực tiếp vào việc tạo ra tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân, là Ngành phục vụ nhu cầu giao lƣu tình cảm của mọi tầng lớp nhân dân, xã hội càng phát triển nhu cầu về văn hóa, giao lƣu tình cảm của 13 z con ngƣời ngày càng tăng, Bƣu chính Viễn thông trở thành một bộ phận không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt của con ngƣời. Ngành Bƣu chính Viễn thông còn là Ngành thuộc kết cấu hạ tầng của nền kinh tế quốc dân, tạo ra những điều kiện cần thiết, chung nhất cho tất cả các lĩnh vực sản xuất xã hội. Tại điều 1 chƣơng I pháp lệnh Bƣu chính Viễn thông năm 2002 đã xác định vị trí của Ngành Bƣu chính Viễn thông: “Nhà nƣớc xác định Bƣu chính, Viễn thông là Ngành kinh tế, kỹ thuật, dịch vụ quan trọng thuộc kết cấu hạ tầng của nền kinh tế quốc dân.
Phát triển Bƣu chính, Viễn thông nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội, góp phần nâng cao chất lƣợng cuộc sống của nhân dân và bảo đảm an ninh quốc phòng”. Không giống nhƣ những Ngành sản xuất vật chất khác, Bƣu chính Viễn thông có những đặc điểm riêng của mình, những đặc điểm này ảnh hƣởng trực tiếp đến công tác quản lý, tổ chức sản xuất kinh doanh, tổ chức lao động, tổ chức công tác kế hoạch, hoạch toán kinh doanh… Các đặc điểm chủ yếu của Ngành Bƣu chính Viễn thông đƣợc thể hiện qua một số nội dung sau: Một là, sản phẩm Bƣu chính Viễn thông mang tính vô hình. Sản phẩm Bƣu chính Viễn thông không phải là sản phẩm vật chất chế tạo mới, không phải là hàng hóa cụ thể mà là hiệu quả có ích của quá trình truyền đƣa tin tức từ ngƣời gửi đến ngƣời nhận, sản phẩm Bƣu chính Viễn thông thể hiện dƣới dạng dịch vụ, mà dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích cung ứng nhằm để trao đổi, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu. Để tạo ra các sản phẩm Bƣu chính, Viễn thông cũng cần phải có sự tham gia của các yếu tố sản xuất Bƣu chính Viễn thông: lao động, tƣ liệu lao động và đối tƣợng lao động.
Tuy nhiên, đối tƣợng lao động của Ngành Bƣu chính Viễn thông là những tin tức nhƣ: Bức thƣ, bƣu phẩm, bƣu kiện, cuộc đàm thoại…do đó nó chỉ chịu sự thay đổi về vị trí không gian, chứ không phải là thay đổi có tính chất vật lý. Mọi sự thay đổi khác đều là vi phạm về chất lƣợng dịch vụ. 14 z Sản phẩm Bƣu chính Viễn thông không phải là vật chất cụ thể không tồn tại ngoài quá trình sản xuất, nên không thể đƣa vào kho, không thay thế đƣợc. Do đó để đáp ứng yêu cầu cao về chất lƣợng sản phẩm là thách thức đối với các nhà quản lý, tổ chức sản xuất Bƣu chính Viễn thông.
Hai là, quá trình sản xuất Bƣu chính Viễn thông mang tính dây chuyền: Để thực hiện một đơn vị sản phẩm Bƣu chính Viễn thông cần có nhiều ngƣời, nhiều nhóm ngƣời, nhiều đơn vị sản xuất trong nƣớc và có khi là nhiều đơn vị sản xuất ở các nƣớc khác nhau cùng tham gia và trong quá trình đó cần sử dụng nhiều loại thiết bị thông tin khác nhau, nhiều công nghệ khác nhau và nhiều loại lao động có Ngành nghề khác nhau. Đây là một đặc điểm quan trọng mà ngƣời làm công tác tổ chức sản xuất quản lý trong Ngành Bƣu chính Viễn thông phải đặc biệt chú ý. Do đó để tạo ra một sản phẩm hoàn chỉnh với chất lƣợng đảm bảo cần phải có thể lệ thủ tục, quy trình khai thác thống nhất không chỉ ở trong nƣớc mà còn cả trong khu vực và quốc tế. Ba là, quá trình sản xuất gắn liền với quá trình tiêu thụ sản phẩm.
Trong hoạt động thông tin Bƣu chính Viễn thông quá trình sản xuất gắn liền với quá trình tiêu thụ hay nói cách khác hiệu quả có ích của quá trình truyền đƣa tin tức đƣợc tiêu thụ ngay trong quá trình sản xuất. Do đó yêu cầu đối với chất lƣợng Bƣu chính Viễn thông phải thật cao nếu không sẽ ảnh hƣởng trực tiếp đến ngƣời tiêu dùng, điều đó đòi hỏi công tác tổ chức lao động và chính sách Marketing phải phù hợp, khoa học, đặc biệt là những nhân viên tuyến đầu. Bốn là, trong hoạt động của Ngành Bƣu chính Viễn thông tải trọng dao động không đều theo thời gian và không gian. Nhu cầu truyền đƣa tin tức xuất hiện không đồng đều theo các giờ trong ngày đêm, theo các ngày trong tuần, theo các tháng trong năm.
Thƣờng nhu cầu về truyền đƣa tin tức phụ thuộc vào nhịp độ sinh hoạt của xã hội, chính đặc điểm này có ảnh hƣởng lớn đến công tác tổ chức sản xuất kinh doanh trong Ngành Bƣu chính Viễn thông, làm phức tạp quá trình sản xuất, tổ chức lao động trong doanh nghiệp Bƣu chính Viễn thông. Những đặc đểm trên của Ngành Bƣu chính Viễn thông đã dẫn đến một số sự khác biệt trong quá trình sản 15 z xuất so với các Ngành sản xuất vật chất khác. Đặc biệt là công tác tổ chức lao động, để có một lực lƣợng lao động dự trữ phù hợp và tăng hệ số sử dụng lao động bình quân, đáp ứng nhu cầu trao đổi thông tin của xã hội, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh cần phải có một chính sách hoạch định, quản lý và tổ chức lao động phù hợp, khoa học.