Chương 1 - CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HOÁ TỔ CHỨC VÀ XÂY DỰNG VĂN HÓA TỔ CHỨC 1.1 Tổ chức và văn hoá tổ chức 1. Khái niệm và phân loại tổ chức a) Khái niệm Tổ chức thường được hiểu như là tập hợp của nhiều người cùng làm việc vì những mục đích chung trong hình thái cơ cấu ổn định [4, tr.79] b) Đặc trưng [11, tr.79] Các tổ chức tuy rất khác nhau về lí do tồn tại và phương thức hoạt động nhưng đều mang những đặc trưng cơ bản với tư cách là một loại hình tổ chức. Đó là: Mọi tổ chức đều mang tính mục đích rất rõ ràng. Khác với các cá nhân, cộng đồng hay xã hội, tổ chức hiếm khi mang trong mình mục đích tự thân mà là tổ chức được các chủ thể nhất định tạo ra như công cụ để thực hiện những mục đích nhất định.
Đây chính là yếu tố cơ bản nhất của bất kì tổ chức nào. Mọi tổ chức đều là những tổ chức gồm nhiều người làm việc vì mục tiêu chung trong cơ cấu tổ chức ổn định. Khi đứng vào một tổ chức, chúng ta đã cam kết hành động cùng với những người khác vì mục tiêu chung chứ không phải chỉ hướng tới mục tiêu riêng của mình. Mọi tổ chức đều chia sẻ mục tiêu lớn - cung cấp sản phẩm và dịch vụ có giá trị đối với khách hàng.
Ý thức rõ ràng về mục tiêu gắn liền với "các sản phẩm và dịch vụ có chất lượng" và "thỏa mãn khách hàng" là nguồn gốc quan trọng của sức mạnh và lợi thế đối với một tổ chức. Mọi tổ chức đều là tổ chức mở. Tổ chức tương tác với môi trường trong quá trình liên tục thu hút các nguồn lực đầu vào để chuyển đổi thành đầu ra là các sản phẩm và dịch vụ cung cấp cho khách hàng. Cuối cùng, mọi tổ chức đều được quản lí.
Hình ảnh của các nhà quản lí luôn gắn liền với những tổ chức nhất định. c) Phân loại Có rất nhiều quan điểm khác nhau trong phân loại các tổ chức có thể kể đến một số cách phân loại cơ bản như sau: 7 (i) Tổ chức công và tổ chức tư: Theo những cách tiếp cận khác nhau, khái niệm về tổ chức công và tổ chức tư rất đa dạng. Theo chế độ sở hữu + Tổ chức công là tổ chức thuộc quyền sở hữu của Nhà nước hoặc không có chủ sở hữu. Đó chính là các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp nhà nước, các trường học và bệnh viện công, các tổ chức chính trị, xã hội, đoàn thể, nghề nghiệp.
+ Tổ chức tư là tổ chức thuộc sở hữu tư nhân (của một hay một nhóm người). Đó có thể là các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, hợp tác xã, trang trại, hộ kinh doanh cá thể, hộ nông dân, trường học tư, bệnh viện tư. Theo sản phẩm, dịch vụ mà tổ chức tạo ra + Tổ chức công là tổ chức tạo ra các sản phẩm, dịch vụ công - những sản phẩm, dịch vụ mà người sử dụng không phải cạnh tranh và loại trừ nhau để có quyền sử dụng. + Tổ chức tư là tổ chức tạo ra các sản phẩm và dịch vụ tư.
(ii) Tổ chức vì lợi nhuận và tổ chức phi lợi nhuận Theo mục tiêu cơ bản, các tổ chức được phân ra thành tổ chức vì lợi nhuận và tổ chức phi lợi nhuận. + Tổ chức vì lợi nhuận là tổ chức tồn tại chủ yếu vì mục tiêu lợi nhuận. Yếu tố được quan tâm nhất ở các tổ chức này là bao nhiêu lợi nhuận được tạo ra từ các khoản đầu tư và lợi ích của các chủ sở hữu được thỏa mãn như thế nào. Đó chính là các doanh nghiệp, các hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể.
+ Tổ chức phi lợi nhuận là tổ chức tồn tại để cung cấp các sản phẩm, dịch vụ phục vụ cộng đồng. Đó là các cơ quan nhà nước, các tổ chức công ích, các tổ chức chính trị, các tổ chức tôn giáo, các tổ chức từ thiện, các viện bảo tàng. Tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá kết quả hoạt động của các tổ chức này không phải là lợi nhuận. (iii) Tổ chức chính thức và tổ chức phi chính thức Theo tính chất của các mối quan hệ, các tổ chức được chia làm tổ chức chính thức và tổ chức phi chính thức.
+ Tổ chức chính thức thường được hiểu với một số đặc trưng cơ bản. Thứ nhất, là tổ chức mà trong đó mọi thành viên của nó đều được xác định một cách rõ ràng 8 chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm. Thứ hai, là tổ chức mà cơ cấu có thể được hiển thị thông qua một sơ đồ cơ cấu với các mối liên hệ rõ ràng. Thứ ba, là tổ chức có thể cung cấp những sản phẩm và dịch vụ cụ thể cho khách hàng của mình trong khuôn khổ pháp luật.
+ Tổ chức phi chính thức không mang những đặc trưng kể trên. Điển hình của tổ chức phi chính thức có thể kể đến những nhóm được hình thành thông qua các mối quan hệ cá nhân, tồn tại trong tổ chức chính thức do cùng chung nguyện vọng, sở thích, quan điểm, tư tưởng. Khái niệm Văn hoá tổ chức Khái niệm “văn hóa tổ chức” (Organization Culture) được tổng – tích hợp từ hai khái niệm “văn hóa” và “tổ chức”. Khi kết hợp thành khái niệm “văn hóa tổ chức”, dù hàm nghĩa đã được khu trú lại nhưng vẫn tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau.
Sau đây là một số định nghĩa đã được công bố và sử dụng phổ biến: - Theo Elliott Jaques (1952): “Văn hóa tổ chức là thói quen, cách nghĩ truyền thống và cách làm việc trong tổ chức được chia sẻ bởi tất cả các thành viên trong tổ chức” [14, tr. - Theo Adrew Pettgrew (1979): “Văn hóa tổ chức là hệ thống những ý nghĩa chung được chấp nhận rộng rãi bởi những người lao động trong thời gian nhất định” [15, tr. - Theo Robbin (2003): “Văn hóa tổ chức là một hệ thống ý nghĩa chung hàm giữ bởi các thành viên của tổ chức, qua đó có thể phân biệt tổ chức này với tổ chức khác” [16, tr. Những khái niệm trên tạo nên quan niệm về văn hóa tổ chức mà trong thực tế được biểu đạt gắn với từng loại hình thể chế nghề nghiệp như: sản xuất – kinh doanh, hành chính, giáo dục – đào tạo… Từ các khái niệm nêu trên trong phạm vi luận văn này sử dụng quan niệm chung nhất về văn hóa tổ chức, đó là: “Văn hóa tổ chức là toàn bộ các yếu tố văn hóa được chủ thể (tổ chức) chọn lọc, tạo ra, sử dụng và biểu hiện trong quá trình hoạt động từ đó tạo nên bản sắc riêng có của một tổ chức”.
Đặc điểm Văn hóa tổ chức [14], [15], [16] Khi nói đến văn hóa tổ chức hay văn hóa của một tổ chức là nói đến các tiêu chuẩn giá trị, niềm tin, cách ứng xử. được thể hiện qua thái độ, hành vi của các thành 9 viên liên kết với nhau để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của tổ chức. Đặc điểm của một tổ chức được thể hiện trong hoàn cảnh cụ thể chịu tác động từ những ảnh hưởng của hệ thống tổ chức và hoạt động lãnh đạo trong việc hoàn thiện nhân cách con người. Với những đặc điểm này, văn hóa tổ chức đóng vai trò gắn kết các thành viên, tạo nên sự ổn định bằng cách đưa ra những chuẩn mực hướng dẫn các thành viên đi theo mục đích chung của tổ chức một cách tự giác, tự nguyện.
Các yếu tố văn hóa được chọn lọc có vai trò như một cơ chế khẳng định giá trị của tổ chức, hướng dẫn, uốn nắn những hành vi ứng xử lẫn nhau giữa các thành viên trong tổ chức, giữa cá nhân với tổ chức, giữa thành viên với lãnh đạo. Xét từ góc độ phát triển tổ chức, có thể thấy phương pháp phát triển tổ chức là một trong các phương pháp hình thành văn hoá tổ chức với nhiệm vụ là tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các bộ phận và các thành viên riêng biệt của tổ chức, hợp lý hóa cơ cấu, các quy tắc và chuẩn mực hoạt động của tổ chức. Vai trò của văn hóa tổ chức Văn hóa tổ chức có vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển của tổ chức, một số vai trò chính của văn hóa tổ chức được đề cập cụ thể như sau: - Gắn kết các thành viên thành một khối cộng cảm, cộng lợi và cộng mệnh; - Truyền tải thông điệp văn hóa tổ chức: Khi con người tham gia vào một tổ chức, họ mang vào tổ chức những giá trị và niềm tin mà họ đã học được. Tuy nhiên, dường như rất thường xuyên những giá trị và niềm tin này là không đủ để giúp những cá nhân đó có thể thành công trong tổ chức.
Mỗi cá nhân cần học được cách thức mà một tổ chức cụ thể giải quyết các vấn đề của họ. Do đó ở hầu hết các tổ chức trên thế giới ngày nay một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu là dạy cho những thành viên trong tổ chức hiểu biết những sứ mệnh, mục tiêu của tổ chức, các giá trị, niềm tin cũng như những hành vi mong đợi trong tổ chức hay được gọi chung là Văn hóa Tổ chức. - Tạo nên sự ổn định của tổ chức: Sự ổn định của tổ chức thể hiện qua sự hòa hợp của tổ chức đối với môi trường, mâu thuẫn và những thay đổi được quản lý một cách hiệu quả. Sự ổn định này được tăng cường bằng văn hóa tổ chức, nơi tạo ra một 10 chất keo kết dính các thành viên trong tổ chức bằng cách đưa ra những chuẩn mực để hướng các thành viên nên nói gì và làm gì và mong muốn đạt mục tiêu gì.
- Tạo nên hệ tư tưởng cốt lõi, những giá trị cốt lõi trong một tổ chức. Hệ tư tưởng cốt lõi xác định rõ tổ chức đang có chủ đích gì và tại sao tổ chức tồn tại. Tư tưởng cốt lõi xác định tính chất lâu bền của một tổ chức, một bản sắc nhất quán vượt qua chu kỳ sống của sản phẩm hoặc của thị trường, vượt qua những bứt phá kĩ thuật, những lí thuyết quản lý, những sự lỗi thời trong quản lý, và các cá nhân lãnh đạo. Quả vậy, phần đóng góp lâu dài nhất và ý nghĩa nhất của những ai gây dựng văn hóa cho tổ chức chính là hệ tư tưởng cốt lỗi.2 Các khía cạnh văn hóa tổ chức 1.