Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VE HOẠT DONG VĂN PHÒNG VÀ CHUAN HOÁ HOAT DONG VĂN PHÒNG 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm “Van phòng” Ngày nay, “văn phòng” (office) là khái niệm được dùng phổ biến trên thế giới cũng như ở Việt Nam.
Tùy theo các góc độ tiếp cận mà khái niệm “văn phòng” có thể được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. - Theo góc độ cơ cấu tổ chức — chức năng: Văn phòng là bộ máy có chức năng tham mưu, giúp việc cho lãnh đạo (bộ máy văn phòng, theo nghĩa rộng) hoặc là bộ phận có chức năng tham mưu tông hợp, đảm bảo điều kiện làm việc cua cơ quan (bộ phận văn phòng hay bộ phận hành chính — văn phòng, theo nghĩa hẹp). - Theo góc độ tính chất, phương thức hoạt động: Văn phòng là bộ máy thực thi và kiểm soát công việc theo các chuẩn mực do Nhà nước và co quan, tô chức ban hành, thông qua hệ thống pháp luật, thủ tục hành chính và các quy chế, quy định, quy trình nội bộ (hay còn gọi là hoạt động quản lý hành chính). - Theo góc độ không gian, địa điểm: Văn phòng là trụ sở chính, nơi làm việc của lãnh đạo và bộ máy tham mưu, giúp việc, là trung tâm giao dịch và liên lạc chính thức của cơ quan.
Mặc dù nhận diện văn phòng ở những góc độ khác nhau, nhưng tất cả các định nghĩa trên lại cho chúng ta một cái nhìn tổng thể về “văn phòng”. Hay nói cách khác, văn phòng là một thực thể hiện hữu trong tất cả các cơ quan, t6 chức và doanh nghiệp, bao gồm 3 thành tô cơ bản: (1) Là bộ máy có chức năng tham mưu, giúp việc cho lãnh đạo; (2) Tính chất, phương thức hoạt động: giúp lãnh đạo tô chức thực hiện các quyết định quản lý và kiểm soát các lĩnh vực được phân công theo chuẩn mực (quản lý hành chính); (3) Trụ sở, nơi làm việc (không gian có định và linh hoạt) 12 Từ những định nghĩa về “văn phòng” theo từng góc độ tiếp cận cụ thể trên, có thé đưa ra định nghĩa tông hợp về “văn phòng” như sau: Văn phòng là bộ máy tham mưu, giúp việc trực tiếp cho lãnh đạo, có chức năng đảm bảo thông tin, diéu kiện làm việc; giúp lãnh đạo tổ chức, thực thi và kiểm soát công việc thông qua hoạt động quan lý hành chính [PGS. Vũ Thị Phụng, 2021, tr. Khái niệm “hoạt động văn phòng” Nhìn chung, hoạt động văn phòng có thể được hiểu là hoạt động thực thi các nhiệm vụ được giao của bộ máy hoặc bộ phận văn phòng.
Tuy nhiên, hoạt động chính của bộ máy văn phòng là hoạt động quản lý, trong đó lại gồm hai hình thức: quản lý hành chính (quản lý gián tiếp theo pháp luật và các quy chế, quy định, quy trình, thủ tục) và quản lý chuyên môn (theo nguyên tắc, quy định cụ thể của từng lĩnh vực). Trong hai hình thức trên, hoạt động quản lý hành chính là đối tượng cần được quan tâm ở góc độ quản tri văn phòng. Mục tiêu của quan tri văn phòng là: các hoạt động quan ly hành chính cần được thực hiện trên cơ sở những chuẩn mực nhất định để tạo su thong nhất, nề nếp và hiệu quả, hỗ trợ đắc lực cho hoạt động chuyên môn. Vì thế, hoạt động văn phòng là hoạt động quản lý hành chính của bộ máy văn phòng, được thực hiện trên cơ sở pháp luật và các quy chế, quy định, quy trình do Nhà nước hoặc cơ quan, tô chức ban hành.
Khái niệm “Chuẩn hóa” Theo Từ điển Hán — Việt của tác giả Trần Văn Chánh”, “chuân” là căn cứ, mẫu mực; “hóa” là biến đồi, thay đôi, hướng tới” Theo Đại từ điển tiếng Việt , chuẩn hóa là xác lập chuẩn mực. Trong đó, chuân mực được hiéu là cái được chọn làm căn cứ dé đôi chiêu, đê làm mau. Vũ Thị Phụng - Chủ biên (2021), Giáo trình Lý luận về Quản trị văn phòng, NXB Dai học Quốc gia Hà Nội “Trần Văn Chánh, Tir điển Hán Việt, NXB Trẻ, TP Hồ Chí Minh, 1999 (dẫn theo http://hvdic.net/hv) 3 Dẫn theo http://hvdic.net/hv * Nguyễn Như Y, Dai tir điển tiếng Việt, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 1999 (dẫn theo http://hvdic.net/hv) 13 Từ những định nghĩa trên, nội hàm của thuật ngữ “chuẩn hóa” được sử dụng không chỉ là việc xác lập chuẩn mực mà còn bao gồm các vấn đề sau”: - Tạo ra (xây dựng, ban hành hoặc công bổ) các chuẩn mực; - Phé biến, hướng dan các chuẩn mực đó tới những đối tượng có hên quan; - Kiểm tra, giám sát, đánh giá và xử lý kết qua thực hiện theo các chuẩn mực đã được ban hành; - Điều chỉnh, bố sung các chuẩn mực khi cần thiết. Về mặt lý thuyết, chuẩn mực được áp dụng trong các cơ quan, doanh nghiệp thường gồm hai mức độ: tiêu chuẩn và quy chuẩn.
Tuy nhiên, trong [lĩnh vực quan lý hành chính và trong hoạt động văn phòng, do đặc thù riêng nên nhiều chuẩn mực khó tách bạch thành tiêu chuẩn và quy chuẩn. Vi vậy, hệ thống chuẩn mực trong hoạt động quản lý hành chính của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp chủ yêu được thê hiện qua quy định của pháp luật và các quy phạm nội bộ như quy chế, quy định và quy trình giải quyết công việc. - Quy chế, quy định là một loại văn bản hành chính, thường được ban hành bởi quyết định của người có thấm quyền (hoặc được ban hành độc lập). Quy chế được các cơ quan sử dụng để quy định các nguyên tắc, yêu cầu, chế độ cần được tuân thủ và thực hiện liên quan đến các hoạt động cơ bản, chính yếu.
Vi dụ: Quy chế làm việc, Quy chế chi tiêu nội bộ, Quy chế công tác văn thư, lưu trữ, Quy chế về hội họp. Quy định thường được dùng để xác định những vấn đề phải làm, phải thực hiện cho từng công việc, nhiệm vụ cụ thể. Ví dụ: Quy định về thủ tục thanh quyết toán, Quy định về kỹ thuật trình bày thể thức văn bản; Quy định về công tác thi đua, khen thưởng. - Quy trình là trình tự (thứ tự, cách thức) thực hiện một hoạt động, một công việc, một nhiệm vụ cụ thê.
Quy trình có thể được cơ quan ban hành và áp dụng trong nội bộ hoặc xây dung, áp dung theo Bộ tiêu chuan ISO và được PGS. Vũ Thị Phụng: Bài giảng cao học “Lý luận và lý thuyết về quản trị văn phòng”, Tài liệu lưu hành nội bộ (Khoa Lưu trữ học và Quản trị văn phòng, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội). 14 một tổ chức uy tín đánh giá, công nhận. Ví dụ: Quy trình quản lý văn bản, Quy trình thanh toán tạm ứng, Quy trình bồ nhiệm cán bộ.
Khái niệm “Chuẩn hóa hoạt động văn phòng” Từ các khái niệm cơ bản “văn phòng”, “hoạt động văn phòng”, “chuẩn hóa” đã nêu trên, có thé hiểu “chuẩn hóa hoạt động văn phòng” là các biện pháp của cơ quan, tô chức, doanh nghiệp nhằm phổ biến, ban hành, hướng dẫn, đồng thời kiểm tra và xử lý kết quả thực hiện các chuẩn mực về hoạt động văn phòng. Chuẩn hóa hoạt động văn phòng bao gồm các tiêu chuẩn, định mức, quy trình, quy tắc. được áp dụng trong lĩnh vực văn phòng nhăm phục vụ cho việc t6 chức, thực hiện các hoạt động văn phòng. Mỗi hoạt động văn phòng sẽ có những tiêu chuẩn riêng và được chuẩn hóa theo cách khác nhau.
Các cơ quan, tô chức có thé thực hiện chuẩn hóa hoạt động văn phòng bang cách ban hành các bộ quy tắc thông qua các văn bản quy định cụ thể. Các tiêu chuẩn cấp quốc gia được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật là các tiêu chuẩn bắt buộc phải thực hiện khi xây dựng, ban hành và áp dụng các tiêu chuẩn trong cơ quan, tô chức. Đối với các tiêu chuẩn của tổ chức, khi xây dựng, ban hành và áp dụng các tiêu chuẩn phải dựa trên tinh thần tự nguyện. Kết quả khi áp dụng các tiêu chuẩn của mỗi hoạt động văn phòng phải đạt kết quả tốt và có thê so sánh, đánh giá được.
Mục đích và ý nghĩa của việc chuẩn hóa hoạt động văn phòng Chuẩn hóa hoạt động văn phòng được coi là một trong những mục tiêu và nội dung cơ bản của quản trị văn phòng, nhằm mục dich đưa các hoạt động văn phòng đi vào nề nếp, tao sự thống nhất và đạt hiệu quả. Thực tế cũng chứng minh rằng trong mọi lĩnh vực, hoạt động của các cơ quan, tô chức, doanh nghiệp sẽ đạt hiệu quả cao nếu việc chuẩn hóa được thực hiện tốt. Mục tiêu của công tác chuẩn hóa nói chung là tạo ra sự thống nhất trong hoạt động điều hành, quản lý. Ở góc độ quản trị văn phòng, việc chuẩn hóa hoạt động văn phòng cũng nhằm tạo nên sự thống nhất chung.
15 Với chức năng, nhiệm vụ được giao, hoạt động văn phòng (hay hoạt động quản lý hành chính) là hoạt động thường xuyên, tất yếu, liên quan đến tất cả các bộ phận, cá nhân làm việc trong cơ quan, tô chức (từ lãnh đạo đến cán bộ, nhân viên). Ví dụ, vấn đề quản lý văn bản, cung cấp thông tin văn bản hay việc tô chức hội họp, sự kiện. sẽ liên quan đến nhiều bộ phận, cá nhân. Vì vậy, nếu không có các quy chuẩn thì mỗi bộ phận, mỗi người sẽ làm một cách khác nhau.
Khi đó, công việc sẽ không thống nhất, không đạt hiệu quả cao và người lãnh đạo, quản lý sẽ không có căn cứ dé điều hành, kiểm tra và đánh giá. Có thể nói, việc chuẩn hóa nói chung và các hoạt động văn phòng nói riêng sẽ mang lại nhiều lợi ích cho các cơ quan, tô chức, doanh nghiệp. Cụ thể như sau: - Một là, việc triển khai, thực hiện các công việc, nhiệm vụ của bộ máy/ bộ phận văn phòng sẽ có căn cứ, có cơ sở và thống nhất theo những nguyên tắc, yêu cầu đã được xác định. - Hai là, việc kiểm tra, đánh giá kết quả của các công việc, nhiệm vụ đã hoan thành sẽ trở nên khách quan, dựa trên các chuẩn mực, tiêu chí đã được thống nhất, tránh việc đánh giá theo ý kiến chủ quan của cá nhân người quản lý.
- Ba là, việc chuẩn hóa sẽ giúp các cơ quan, tô chức, doanh nghiệp tiết kiệm được các nguồn lực về thời gian, công sức, tiền bạc. Trên thực tế, việc thực hiện các công việc thường có nhiều phương pháp, cách thức khác nhau. Nếu không có chuẩn mực, khi thực hiện sẽ mất thời gian bàn bạc, lựa chọn phương pháp nào cho phù hợp và đạt hiệu quả.