PHẦN MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Sở Giao Thông Vận Tải (viết tắt Sở GTVT) là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân tỉnh quản lý nhà nước về giao thông vận tải, bao gồm: đường bộ, đường thuỷ nội địa, vận tải và an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh. Thực hiện đổi mới và nâng cao hoạt động, Sở đã cơ cấu tổ chức bộ máy bao gồm 07 phòng chuyên môn và 06 đơn vị sự nghiệp thuộc Sở (gồm: Văn phòng Sở, Thanh tra Sở, Phòng Kế hoạch – Tài chính, Phòng Quản lý Kết cấu hạ tầng và an toàn giao thông, Phòng Quản lý chất lượng công trình giao thông, Phòng Quản lý Vận tải và Phương tiện, Phòng Quản lý đào tạo và sát hạch cấp giấy phép lái xe; Bến xe khách tỉnh, Cảng vụ đường Thuỷ nội địa, Trung tâm đào tạo – Sát hạch lái xe, Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới, Đoạn Quản lý sửa chữa công trình giao thông, Trung tâm Quản lý và Điều hành vận tải hành khách công cộng) để phù hợp với chức năng nhiệm vụ và tăng cường công tác quản lý chuyên môn nói chung và trong việc hoàn thiện tổ chức công tác kế toán nói riêng. Tổ chức công tác kế toán là một trong những nội dung thuộc về tổ chức quản lý trong đơn vị.
Tổ chức công tác kế toán thích ứng với điều kiện về qui mô, về đặc điểm tổ chức cũng như gắn với những yêu cầu quản lý cụ thể tại các đơn vị khác nhau, tổ chức công tác kế toán có ý nghĩa hết sức quan trọng và to lớn trong việc nâng cao hiệu qủa quản lý tại đơn vị. Với chức năng thông tin và kiểm tra tình hình và kết quả hoạt động của đơn vị một cách thường xuyên, nhanh nhạy và có hệ thống nên tổ chức công tác kế toán là một trong các mặt quan trọng được các đơn vị quan tâm. Tổ chức công tác kế toán không đơn thuần là tổ chức một bộ phận quản lý, mà nó còn bao hàm cả việc xác lập các yếu tố, điều kiện cũng như các mối liên hệ đến hoạt động kế toán, bảo đảm cho kế toán phát huy tối đa các chức năng vốn có của mình. Tổ chức công tác kế toán được xem như là một hệ thống các yếu tố cấu thành, nó bao gồm toàn bộ tổ chức vận dụng các phương pháp kế toán để thu 2 nhận, xử lý và cung cấp các thông tin; tổ chức vận dụng chính sách, chế độ vào đơn vị công tác bao gồm công tác tổ chức nhân sự kế toán, người chủ tài khoản ngân sách nhằm để phát huy hết nhiệm vụ, vai trò của mình và đem lại kết quả tốt nhất.
Tổ chức công tác kế toán ngoài việc tuân thủ các nguyên tắc chung của tổ chức, mà còn phải gắn với đặc thù của từng đơn vị. Nhưng cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả của tổ chức công tác kế toán tại các đơn vị trực thuộc Sở GTVT tỉnh Bình Dương. Nghị định 141/2016/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2016 ban hành quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác, nhằm đổi mới toàn diện các đơn vị sự nghiệp; đẩy mạnh việc giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự và tài chính thì đòi hỏi các đơn vị sự nghiệp tại Sở GTVT tỉnh Bình Dương phải nâng cao chất lượng hoạt động; đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; cần đòi hỏi công tác kế toán tại các đơn vị sự nghiệp thực hiện một cách nghiêm túc, chặt chẽ đảm bảo sử dụng kinh phí nhà nước tiết kiệm, quản lý hiệu quả tình hình sử dụng kinh phí và nguồn thu,… Mặc dù việc tổ chức công tác kế toán ngày càng được chú trọng nhưng bên cạnh đó vẫn còn những hạn chế nhất định và đáng lưu ý: Việc cung cấp thông tin cho yêu cầu quản lý tại các đơn vị hiện nay còn yếu, các quyết định còn mang tính kinh nghiệm và ít dựa vào cơ sở khoa học, nguyên nhân là do chức năng thông tin và kiểm tra của tổ chức kế toán chưa phát huy một cách tốt nhất; công tác đối chiếu, kiểm tra trong quá trình luân chuyển chứng từ chưa được quan tâm; công tác tổ chức hệ thống tài khoản kế toán chưa phản ánh đầy đủ, chi tiết; công tác lập dự toán còn khá sơ sài; các báo cáo còn mang tính thủ tục, chậm trễ trong việc cung cấp thông tin dẫn đến chất lượng Báo cáo tài chính, báo cáo thuyết minh chưa cao…Ngoài ra, việc cung cấp thông tin cho yêu cầu quản lý tại các đơn vị còn một số hạn chế như chưa đánh giá được khả năng khai thác nguồn thu cũng như hiệu quả sử dụng các nguồn kinh phí; việc bố trí đội ngũ kế toán đáp ứng về trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức. 3 Do đó, việc đánh giá thực trạng, nghiên cứu đề xuất các giải pháp để hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở GTVT tỉnh Bình Dương là một vấn đề thực tế, cấp bách và mang tính lâu dài.Tổ chức kế toán tốt giúp cho các nhà quản lý có những đánh giá tổng quan về tình hình thực hiện nhiệm vụ kế hoạch và dự toán ngân sách được giao, việc chấp hành chế độ tài chính kế toán và công tác quản lý tài chính của từng đơn vị.Tuy nhiên, tổ chức kế toán tại các đơn vị này còn có những tồn tại chưa đáp ứng hết các yêu cầu, đòi hỏi về công tác kế toán.
Để có cách nhìn toàn diện, tổng thể về tổ chức kế toán tại các đơn vị này, tác giả chọn đề tài “Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở Giao thông Vận tải tỉnh Bình Dương” làm đề tài nghiên cứu cho Luận văn Thạc sĩ của mình. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 2.1 Các nghiên cứu nước ngoài Trên thế giới, có nhiều nghiên cứu trước đây liên quan đến việc tổ chức công tác kế toán tại các đơn vị, trong đó có liên quan đến các đơn vị đặc thù thuộc khu vực công như bệnh viện, cụ thể như: Earl, Leo, Susan (2006) đã thực hiện nghiên cứu “Accounting for Governmental and Nonpofit Entities’" (tạm dịch: Kế toán khu vực công và tổ chức phi lợi nhuận) đã đưa ra các nguyên tắc kế toán chung được chấp nhận, hướng dẫn cách thức ghi nhận các nghiệp vụ kinh tế, cách thức lập báo cáo tài chính cuối kỳ. Nghiên cứu cũng đi sâu vào phân tích hoạt động của một số lĩnh vực sự nghiệp đặc thù như tổ chức kế toán trong các trường học, bệnh viện, các đơn vị lực lượng vũ trang. Nghiên cứu thực hiện tại Malaysia của tác giả Ismail (2009) thực hiện nghiên cứu “Factors Influencing AIS Effectiveness among Manufacturing SMEs: Evidence fromMalaysia” (tạm dịch Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của AIS trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa: Bằng chứng tại Malaysia), thông qua việc tổng hợp lý thuyết nền, các nghiên cứu trước cũng như thực hiện pilot - test đã khám phá ra một số yếu tố mới tác động đến chất lượng của công tác kế toán đối với các đơn vị vừa và nhỏ, như nhà quản trị hiểu biết kế toán từ đó làm gia tăng 4 yêu cầu sử dụng thông tin kế toán của đơn vị, nhà cung cấp, và các công ty dịch vụ kế toán.
Tuy nhiên, đối với các đơn vị vừa và nhỏ thì yếu tố sự tham gia của ban quản lý, trình độ hiểu biết về công tác kế toán của nhà quản lý, các nhà tư vấn và cơ quan nhà nước có liên quan thì không ảnh hưởng đáng kể đến tính hiệu quả của công tác kế toán, trong khi đó các yếu tố này có tác động mạnh đến tính hiệu quả của công tác kế toán trong các nghiên cứu khác. Một nghiên cứu khác cũng thực hiện tại Malaysia của tác giả Salah và các cộng sự thực hiện nghiên cứu vào năm (2010) trong nghiên cứu (tạm dịch): “Hệ thống kế toán quản lý bệnh viện: khung nghiên cứu”. Trong nghiên cứu đề xuất các khuôn khổ để kiểm tra mối quan hệ giữa các yếu tố ngữ cảnh, hệ thống kế toán quản lý (MAS) và hiệu quả quản lý trong ngành Y tế. Đặc biệt, nó nhằm mục đích phát hiện ra các yếu tố theo ngữ cảnh ảnh hưởng đến thiết kế của MAS sẽ tăng cường hiệu suất quản lý tại các bệnh viện Ai Cập.Kết quả nghiên cứu cho thấy việc cung cấp trong việc liên kết tính hữu ích nhận thức của các đặc điểm thông tin MAS với hiệu suất quản lý đã được xem là có vấn đề bởi các nghiên cứu trước đây.
Khuôn khổ này giúp các học viên phát triển các phương pháp tiếp cận mới trong việc thiết kế MAS trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe. Nghiên cứu “Influence Organizational Commitment on The Quality of Accounting Information System” của Syaifulla (2014) thông qua phương pháp nghiên cứu định lượng một lần nữa đã kiểm định rằng yếu tố cam kết của ban quản trị có ảnh hưởng đến chất lượng của HTTTKT. Ngoài ra, còn bổ sung thêm yếu tố cam kết của nhân viên kế toán cũng sẽ ảnh hưởng đến chất lượng của HTTTKT. Nghiên cứu thực hiện tại Hoa Kỳ vào năm 2016 của hai tác giả Nathan và Justin trong nghiên cứu: “The Growing Importance of Cost Accounting for Hospitals” (tạm dịch: Tầm quan trọng ngày càng tăng của kế toán tài chính cho bệnh viện) trong nghiên cứu cho thấy các học giả quản lý đã xác định một số phương pháp kế toán chi phí cung cấp cho các tổ chức các ước tính chính xác về chi phí mà họ phải gánh chịu trong sản lượng sản xuất.
Tuy nhiên, ít được biết về những phương pháp này được sử dụng phổ biến nhất bởi các bệnh viện. Trong 5 nghiên cứu xem xét các tài liệu về các chi phí tương đối và lợi ích của các phương pháp kế toán khác nhau và các tài liệu quan trọng mô tả phương pháp nào được các bệnh viện sử dụng phổ biến nhất. Nó tiếp tục gợi ý rằng bệnh việnđã không áp dụng các hệ thống kế toán chi phí phức tạp bởi vì đặc điểm của hệ thống bệnh viện là chi phí thường quá cao và lợi ích của thông tin chi phí dịch vụ tương đối thấp. Tuy nhiên, những thay đổi trong thiết kế lợi ích bảo hiểm y tế đang tạo ra những ưu đãi cho bệnh nhân để so sánh giá viện phí.