Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về quy trình nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển. Chương 2: Cơ sở lý luận của quy trình nhận hàng nhập khẩu bằng đường biển. Chương 3: Thực trạng quy trình nhận hàng nguyên vật liệu phục vụ sản xuất trang thiết bị y tế nhập khẩu bằng đường biển của công ty TNHH B. Braun Việt Nam.
Chương 4: Giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả quy trình nhận hàng nguyên vật liệu phục vụ sản xuất trang thiết bị y tế nhập khẩu bằng đường biển của công ty TNHH B. Braun Việt Nam. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUY TRÌNH NHẬN HÀNG BẰNG ĐƯỜNG BIỂN. Một số khái niệm cơ bản 2.
Khái niệm hoạt động nhập khẩu Theo Khoản 2, Điều 28 của Luật Thương mại 2005 do Quốc hội ban hành ngày 14/06/2005 đã đưa ra định nghĩa về hoạt động nhập khẩu như sau: “Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật. Khái niệm nguyên vật liệu sản xuất Theo từ điển mở Wikipedia, nguyên vật liệu được định nghĩa là “đối tượng lao động do doanh nghiệp mua, dự trữ để phục vụ quá trình sản xuất, kinh doanh tạo ra sản phẩm”. Trong đó, nguyên liệu là đối tượng lao động, nhưng không phải mọi đối tượng lao động đều là nguyên liệu và tiêu chuẩn để phân biệt sự khác nhau giữa chúng là sự kết tinh lao động của con người trong đối tượng lao động trong khi đối với nguyên liệu là không có. Và các nguyên liệu khi đã trải qua quá trình công nghiệp chế biến thì được gọi là vật liệu.
Khái niệm quy trình nhận hàng Quy trình nhận hàng được hiểu là các bước mà người nhập khẩu hoặc người giao nhận vận chuyển cần tiến hành để có được hàng hóa từ nơi gửi hàng (người gửi hàng) ở quốc gia này đến nơi nhận hàng (người nhận hàng) tại quốc gia của người nhập khẩu. Khái niệm giao nhận hàng hóa bằng đường biển Giao nhận hàng hóa bằng đường biển là hoạt động vận tải có liên quan đến việc sử dụng kết cấu hạ tầng và phương tiện vận tải biển, đó là việc sử dụng những khu đất, khu nước gắn liền với các tuyến đường biển nối liền các quốc gia, các vùng lãnh thổ, hoặc các khu vực trong phạm vi một quốc gia, và việc sử dụng tầu biển, các thiết bị xếp dỡ… để thực hiện việc di chuyển hàng hóa từ nơi gửi hàng (người gửi hàng) ở quốc gia này đến nơi nhận hàng (người nhận hàng) ở quốc gia khác bằng đường biển. Phương thức giao nhận hàng hóa đường biển thường được sử dụng nhất là tàu biển. Khái niệm hàng thiết bị y tế Trang thiết bị y tế được định nghĩa trong khoản 1 Điều 2 Nghị định 36/2016/NĐ- CP về quản lý trang thiết bị y tế như sau: “Trang thiết bị y tế là các loại thiết bị, dụng cụ, vật liệu, vật tư cấy ghép, thuốc thử và chất hiệu chuẩn in vitro, phần mềm (software) được sử dụng riêng lẻ hay phối hợp với nhau theo chỉ định của chủ sở hữu trang thiết bị y tế để phục vụ cho con người nhằm một hoặc nhiều mục đích sau đây: a) Chẩn đoán, ngăn ngừa, theo dõi, điều trị và làm giảm nhẹ bệnh tật hoặc bù đắp tổn thương, chấn thương; b) Kiểm tra, thay thế, điều chỉnh hoặc hỗ trợ giải phẫu và quá trình sinh lý; c) Hỗ trợ hoặc duy trì sự sống; d) Kiểm soát sự thụ thai; đ) Khử khuẩn trang thiết bị y tế, gồm cả hóa chất sử dụng trong quy trình xét nghiệm; e) Vận chuyển chuyên dụng hoặc sử dụng phục vụ cho hoạt động y tế; g) Cung cấp thông tin cho việc chẩn đoán, theo dõi, điều trị thông qua biện pháp kiểm tra các mẫu vật có nguồn gốc từ cơ thể con người.
Cơ sở lý thuyết về quy trình nhận hàng bằng đường biển 2. Đặc điểm, vai trò, cơ sở pháp lý của người giao nhận vận chuyển 2. Đặc điểm của người giao nhận vận chuyển Trong nhiều nước, người giao nhận được gọi bằng nhiều tên khác nhau như “Đại lý hải quan”, “Đại lý khai hải quan”, “Người môi giới hải quan”, “Đại lý gửi hàng và giao nhận” và một số trường hợp hành xử như “Người vận chuyển chuyên chính” nhưng dù gọi bằng tên gì đi nữa, người giao nhận vẫn chỉ là người bán dịch vụ. Theo Luật Thương mại Việt Nam 1997: “Người làm dịch vụ giao nhận hàng hóa là thương nhân có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa”.
Theo Liên đoàn quốc tế các Hiệp hội giao nhận FIATA: “Người giao nhận là người lo toan để hàng hóa được chuyên chở theo hợp đồng ủy thác và hành động vì lợi ích của người ủy thác mà bản thân anh ta không phải là người chuyên chở. Người 8 giao nhận cũng đảm nhận thực hiện mọi công việc liên quan đến hợp đồng giao nhận như bảo quản, lưu kho trung chuyển, làm thủ tục hải quan, kiểm hóa…”. Vai trò của người giao nhận vận chuyển Ngày này do sự phát triển của vận tải container, vận tải đa phương thức, người giao nhận có thể đảm nhận những vai trò với chức năng và công việc khác nhau như: - Dịch vụ môi giới khai thuê hải quan: Các nhà xuất nhập khẩu sẽ đi thuê ngoài các hoạt động về thủ tục hải quan, thông quan, ủy thác cho các hãng hay người giao nhận thay họ làm các thủ tục hợp pháp để vận chuyển hàng hóa, nguyên liệu nội địa hoặc xuyên biên giới, vừa rẻ vừa hiệu quả lại không mất quá nhiều thời gian. Lúc này, các hãng hay người giao nhận sẽ như một nhà môi giới khai thuê hải quan.
- Đại lý: Trước đây người giao nhận không dám nhận trách nhiệm của người chuyển chở. Người giao nhận chỉ hoạt động như một cầu nối giữa người gửi hàng và người chuyên chở như một đại lý của người chuyên chở hoặc người gửi hàng. - Lo liệu chuyển tải và gửi tiếp hàng hóa: Khi vận chuyển hàng hóa quốc tế,việc quá cảnh tại một nước thứ ba hay thứ tư là điều thường xuyên xảy ra. Ở mỗi trạm dừng như vậy, có thể là để tiếp nhiên liệu cho phương tiện, khắc phục sự cố hay đổi phương tiện hoặc phương thức vận chuyển.
Như vậy, để thuận tiện, dễ dàng và thông suốt trong quá trình lưu thông hàng hóa thì người giao nhận sẽ đảm nhiệm việc chuyển tiếp hàng hóa từ phương tiện vận tải này sang phương tiện vận tải khác và từ địa điểm này sang địa điểm khác. - Lưu kho và bảo quản hàng hóa: Trong trường hợp khách hàng yêu cầu lưu kho hàng hoá trước khi xuất khẩu và sau khi nhập khẩu, người giao nhận sẽ bố trí phương tiện nội bộ mình có và phân phối hàng theo yêu cầu. - Gom hàng và thông báo biểu cước: Dịch vụ này đã xuất hiện sớm hơn ở Châu Âu chủ yếu phục vụ cho đường sắt. Đặc biệt trong vận tải hàng hoá bằng Container, dịch vụ gom hàng là không thể thiếu được nhằm biến hàng lẻ (LCL) thành hàng nguyên (FCL) để tận dụng sức chứa, sức chở của container và giảm cước phí vận chuyển.
Khi là người gom hàng, người giao nhận có thể đóng vai trò là người vận tải hoặc chỉ là đại lý. `- Người chuyên chở: Hiện nay trong nhiều trường hợp Giao nhận đóng vai trò là người chuyên chở, tức là người Giao nhận trực tiếp ký kết hợp đồng giao vận chuyển 9 với chủ hàng và chịu trách nhiệm chuyên chở hàng hoá từ nơi này đến nơi khác. Người Giao nhận đóng vai trò là người thầu chuyên chở theo hợp đồng (Contracting Carrier), nếu người Giao nhận ký hợp đồng chuyên chở thì họ là người chuyên chở thực tế (Performing Carrier). Cơ sở pháp lý của người giao nhận vận chuyển Việc giao hàng hoá nhập khẩu phải dựa trên cơ sở pháp lý như: các quy phạm pháp luật quốc tế (các công ước về vận đơn, vận tải, công ước về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế…), các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước Việt Nam về giao nhận vận tải, các loại hợp đồng và L/C… thì mới đảm bảo quyền lợi của chủ hàng nhập khẩu.
Trong đó, một số các quy phạm pháp luật quốc tế có thể kể đến như: Công ước Vienne 1980 về buôn bán quốc tế, công ước quốc tế để thống nhất một số quy tắc về vận đơn đường biển, ký tại Brussels ngày 25/08/1924, Nghị định thư sửa đổi Công ước quốc tế để thống nhất một số quy tắc về vận đơn đường biển (Nghị định thư Visby 1968) và Công ước Liên hiệp quốc về chuyên chở hàng hóa bằng đường biển, 1978. Bên cạnh đó, Nhà nước Việt Nam cũng đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến vận tải, xếp dỡ, giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu như: Bộ luật hàng hải 1990, Luật Hải quan, Luật thương mại năm 2005, Nghị định 140/2007/NĐ-CP ngày 05/09/2007 Quy định chi tiết Luật Thương mại về điều kiện kinh doanh dịch vụ Logistics và giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics và các văn bản của nhà nước có liên quan đến giao nhận vận chuyển như văn bản quy định tàu bè nước ngoài ra vào các cảng quốc tế của Việt Nam, văn bản quy định trách nhiệm. Đây là những nguồn luật mà người giao nhận phải nắm rõ để thực hiện tốt công việc của mình. Các phương thức giao nhận hàng nhập khẩu Giao nhận hàng hóa nhập khẩu hiện nay có 4 phương thức lưu thông phổ biến đó là giao nhận bằng đường biển, đường hàng không, đường bộ và đường sắt.
Mỗi phương thức sẽ có những ưu, nhược điểm khác nhau. Do đó doanh nghiệp sẽ tùy 10 thuộc vào chủng loại hàng hóa, thời gian quy định trong hợp đồng…để có thể cân nhắc lựa chọn phương án vận tải phù hợp. Đối với phương thức giao nhận bằng đường biển Phương thức giao nhận bằng đường biển rất thích hợp cho việc vận chuyển hàng hóa có khối lượng lớn và cự ly vận chuyển dài do đặc điểm 2/3 diện tích bề mặt trái đất là biển, phương thức giao nhận này là một trong những phương thức vận tải ra đời sớm nhất và đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế thương mại của xã hội loài người. Đối với phương thức giao nhận bằng đường hàng không Phương thức vận tải hàng không ra đời sau những phương thức vận tải khác, song đến thời điểm hiện nay, phương thức này đang đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế thương mại quốc tế.