phần mở đầu và kết luận, nội dung khóa luận bao gồm 3 phần: CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC TÀI SẢN CỐ ĐỊNH CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TẠI CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN & TƢ VẤN RSM VIỆT NAM CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHO QUY TRÌNH KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TẠI CÔNG TY XYZ 5 CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC TÀI SẢN CỐ ĐỊNH 1. Tổng quan về khoản mục Tài sản cố định 1. Định nghĩa và các tiêu chuẩn ghi nhận Tài sản cố định Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 03, 04 và 06, tài sản cố định đƣợc trình bày trên Bảng cân đối kế toán tại phần B, Tài sản dài hạn, chủ yếu bao gồm Tài sản cố định hữu hình, Tài sản cố định vô hình và Tài sản cố định thuê tài chính.
Tài sản cố định hữu hình: Là những tài sản có hình thái vật chất do doanh nghiệp nắm giữ để sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ hữu hình. Tài sản cố định vô hình: Là tài sản không có hình thái vật chất nhƣng xác định đƣợc giá trị và do doanh nghiệp nắm giữ, sử dụng trong sản xuất, kinh doanh, cung cấp dịch vụ hoặc cho các đối tƣợng khác thuê phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ vô hình. Tài sản cố định thuê tài chính: Là những tài sản cố định đã đƣợc bên cho thuê chuyển giao phần lớn lợi ích và rủi ro gắn với quyền sở hữu tài sản cho bên thuê; quyền sở hữu tài sản có thể đƣợc chuyển giao vào cuối thời hạn thuê. Nhƣ vậy, dù chƣa thuộc quyền sở hữu của bên thuê, nhƣng do đặc điểm trên, tài sản thuê tài chính vẫn đƣợc ghi nhận là tài sản của bên thuê.
Các loại tài sản cố định nói trên cần đƣợc phản ánh trên báo cáo tài chính theo giá trị thuần, nghĩa là giá trị còn lại. Tuy nhiên, chuẩn mực và chế độ kế toán yêu cầu phải phản ánh đồng thời nguyên giá và giá trị hao mòn lũy kế của tài sản. Vì vậy, quá trình kiểm toán tài sản cố định gắn liền với việc kiểm tra chi phí khấu hao. Khấu hao, theo chuẩn mực kế toán, là sự phân bổ có hệ thống đối với giá trị phải khấu hao của tài sản cố định trong suốt thời gian sử dụng hữu ích của tài sản cố định.
Giá trị phải khấu hao của tài sản cố định là phần còn lại do quan của nguyên giá sau khi trừ đi giá trị thanh lý ƣớc tính. Theo Hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam (Chuẩn mực 03, 04 – Quyết định của Bộ trƣởng Bộ Tài chính số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2001), Tiêu 6 chuẩn ghi nhận TSCĐ phải thỏa mãn đồng thời tất cả bốn (4) tiêu chuẩn ghi nhận sau: (a) Chắc chắn thu đƣợc lợi ích kinh tế trong tƣơng lai từ việc sử dụng tài sản đó; (b) Nguyên giá tài sản phải đƣợc xác định một cách đáng tin cậy; (c) Thời gian sử dụng ƣớc tính trên 1 năm; (d) Có đủ tiêu chuẩn giá trị theo quy định hiện hành. Khấu hao Tài sản cố định Theo Chuẩn mực 03, Khấu hao đƣợc định nghĩa: Là sự phân bổ một cách có hệ thống giá trị phải khấu hao của TSCĐ hữu hình trong suốt thời gian sử dụng hữu ích của tài sản đó. Phƣơng pháp khấu hao phải phù hợp với lợi ích kinh tế mà tài sản đem lại cho doanh nghiệp.
Số khấu hao của từng kỳ đƣợc hạch toán vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ, trừ khi chúng đƣợc tính vào giá trị của các tài sản khác, nhƣ: Khấu hao TSCĐ hữu hình dùng cho các hoạt động trong giai đoạn triển khai là một bộ phận chi phí cấu thành nguyên giá TSCĐ vô hình (theo quy định của chuẩn mực TSCĐ vô hình), hoặc chi phí khấu hao TSCĐ hữu hình dùng cho quá trình tự xây dựng hoặc tự chế các tài sản khác. Có 3 phƣơng pháp tính khấu hao TSCĐ: Phƣơng pháp khấu hao đƣờng thẳng: số khấu hao hằng năm không đƣợc thay đổi trong suốt thời gian sử dụng hữu ích của tài sản và đƣợc tính bằng việc chia nguyên giá TSCĐ cho số năm sử dụng hữu ích. Phƣơng pháp khấu hao theo số dƣ giảm dần: số khấu hao hằng năm giảm dần trong suốt thời gian sử dụng hữu ích của tài sản. Phƣơng pháp khấu hao theo số lƣợng sản phẩm: áp dụng cho các TSCĐ tham gia trực tiếp vào sản xuất sản phẩm, có thể xác định đƣợc tổng số lƣợng sản phẩm theo công suất thiết kế và công suất thực tế sử dụng phải đạt tối thiểu bằng 50% công suất thiết kế.
Đặc điểm của Tài sản cố định Tài sản cố định là một khoản mục có giá trị lớn, thƣờng chiếm tỷ trọng đáng kể so với tổng tài sản trên Bảng cân đối kế toán. Trong các doanh nghiệp sản xuất thuộc 7 lĩnh vực công nghiệp nặng, dầu khí. giá trị khoản mục này chiếm tỷ trọng rất cao trong tổng tài sản. Tuy nhiên, việc kiểm toán tài sản cố định thƣờng không chiếm nhiều thời gian vì: Số lƣợng tải sản cố định thƣờng không nhiều và từng đối tƣợng thƣờng có giá trị lớn.
Số lƣợng nghiệp vụ tăng, giảm tài sản cố định trong năm thƣờng không nhiều. Vấn đề khóa sổ cuối năm không phức tạp nhƣ tài sản ngắn hạn do khả năng xảy ra nhầm lẫn trong ghi nhận các nghiệp vụ về tài sản cố định giữa các niên độ thƣờng không cao. Đối với chi phí khấu hao, khác với các chi phí thông thƣờng khác, việc kiểm toán có các đặc điểm riêng nhƣ sau: Trƣớc hết, chi phí khấu hao là một khoản ƣớc tính kế toán, không phải là chi phí thực tế phát sinh. Bởi vì mức khấu hao phụ thuộc vào ba nhân tố là giá trị phải khấu hao (nguyên giá trở giá trị thanh lý ƣớc tính), thời gian sử dụng hữu ích và phƣơng pháp khấu hao; trong đó nguyên giá là nhân tố khách quan, còn giá trị thanh lý và thời gian sử dụng hữu ích lại căn cứ theo ƣớc tính của đơn vị.
Bên cạnh đó, việc lựa chọn phƣơng pháp khấu hao cho phù hợp với đặc điểm hoạt động kinh doanh của đơn vị phụ thuộc vào xét đoán của nhà quản trị doanh nghiệp. Vì vậy, việc kiểm toán chi phí khấu hao mang tính chất kiểm tra một khoản ƣớc tính kế toán hơn là một chi phí phát sinh thực tế, nghĩa là không thể dựa vào các chứng từ, tài liệu để tính toán chính xác đƣợc. Thứ hai, do chi phí khẩu hao là một sự phân bổ có hệ thống của nguyên giá sau khi trừ giá trị thanh lý ƣớc tính nên sự hợp lý của nó còn phụ thuộc vào phƣơng pháp khấu hao đƣợc sử dụng. Vì vậy, kiểm toán chi phí khấu hao còn mang tính chất của sự kiểm tra về việc áp dụng phƣơng pháp kế toán.
Thứ ba: đối với các doanh nghiệp đa ngành nghề, gồm cả sản xuất kinh doanh và đầu tƣ bất động sản, đôi khi khó phân biệt rõ ràng mục đích sử dụng các bất động sản (đất đai và nhà cửa) của đơn vị, đó là sử dụng để phục vụ cho sản xuất kinh doanh, để cho thuê (cho thuê tài chính hay cho thuê hoạt động), để 8 bán hay hay đầu tƣ chờ cơ hội tăng giá. Điều này tiềm ẩn dẫn đến trình bày và đánh giá sai các khoản mục liên quan. Cuối cùng, phần lớn các tài sản cố định có thời gian sử dụng lâu dài, nên có thể phát sinh các chi phí sau ban đầu. Những chi phí này đƣợc ghi nhận vào chi phí trong kỳ phát sinh hay vốn hóa phụ thuộc vào xét đoán, đánh giá của nhà quản trị doanh nghiệp.
Việc xét đoán không thích hợp sẽ làm ảnh hƣởng đến cả khoản mục tài sản cố định và chi phí liên quan. Mục tiêu và quy trình kiểm toán khoản mục Tài sản cố định 1. Mục tiêu kiểm toán khoản mục Tài sản cố định Đối với khoản mục TSCĐ trên BCTC, KiTV phải thu thập các bằng chứng và thực hiện việc kiểm toán đáp ứng các cơ sở dẫn liệu sau: Tính hiện hữu: Tài sản cố định thể hiện trên Báo cáo tài chính là có thật. Quyền: Tài sản cố định thể hiện trên Báo cáo tài chính thuộc quyền sở hữu/kiểm soát của đơn vị.
Tính đầy đủ: Tài sản cố định thuộc quyền sở hữu/kiểm soát của đơn vị đã đƣợc ghi chép đầy đủ. Đánh giá và phân bổ: Tài sản cố định thể hiện trên Bảo cáo tài chính đƣợc tính giá và ghi nhận phù hợp chuẩn mực chế độ kế toán hiện hành. Trình bày và thuyết minh: Tài sản cố định trình bảy trên Bảng thuyết minh: Là có thật (tính hiện hữu) và thuộc quyền (sở hữu) của đơn vị Là đầy đủ (tính đầy đủ) Đƣợc trình bày, diễn giải và thuyết minh hợp lý, rõ ràng, dễ hiểu (phân loại và tính dễ hiểu) Đƣợc ghi nhận chính xác và theo giá trị phù hợp (tính chính xác và đánh giá) Đối với chi phí khấu hao, mục tiêu kiểm toán đáp ứng các cơ sở dẫn liệu sau: Tính hiện hữu (tính phát sinh): Chi phí khấu hao ghi nhận là thực sự phát sinh trong kỳ Tính đầy đủ: Chi phí khấu hao của các tài sản cố định đang sử dụng đƣợc ghi 9 nhận đầy đủ Tính chính xác: Số liệu khấu hao đƣợc tính toán và ghi chép chính xác về số học Đúng kỳ: Chi phí khấu hao đƣợc ghi nhận đúng kỳ Phân loại: Chi phí khấu hao đƣợc ghi nhận đúng vào tài khoản liên quan. Trình bày và Thuyết minh: Các thuyết minh liên quan đến chi phí khấu hao đƣợc trình bày, diễn giải rõ ràng, dễ hiểu.
Quy trình kiểm toán khoản mục Tài sản cố định 1. Chuẩn bị kiểm toán Lập kế hoạch kiểm toán: là bƣớc đầu tiên trong quy trình thực hiện kiểm toán và có thể coi là quá trình lập ra phƣơng hƣớng cho toàn bộ cuộc kiểm toán. Đối với kiểm toán khoản mục TSCĐ, giai đoạn lập kế hoạch sẽ có những yêu cầu tìm hiểu về những vấn đề sau: Tìm hiểu đặc điểm hoạt động, ngành nghề sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp khách hàng. Tìm hiểu chính sách kế toán áp dụng để hạch toán TSCĐ và tính toán chi phí khấu hao.
Phân tích sơ bộ BCTC của năm trƣớc. Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp khách hàng và rủi ro gian lận. Xác định mức trọng yếu cho khoản mục TSCĐ. Lập biểu chỉ đạo (Leadsheet) cho khoản mục TSCĐ đƣợc kiểm toán.
Thực hiện kiểm toán Thực hiện kiểm toán là giai đoạn tiếp theo trong chu trình kiểm toán.