Chương I: Cơ sở khoa học về ngân hàng thương mại và quy trình 5S trong quản lý chất lượng tại nơi làm việc Chương II: Thực trạng triển khai quy trình 5S trong quản lý chất lượng tại N gân hàng TMCP Quân đội MBBank – Chi nhánh Quận 12 TP Hồ Chí Minh Chương III: Định hướng và giải pháp hoàn thiện quy trình 5S trong quản lý chất lượng tại N gân hàng TMCP Quân đội MBBank – Chi nhánh Quận 12 TP Hồ Chí Minh. 5 PHẦ 2: ỘI DU G VÀ KẾT QUẢ GHIÊ CỨU CHƯƠ G I: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ GÂ HÀ G THƯƠ G MẠI VÀ QUY TRÌ H 5S TRO G QUẢ LÍ CHẤT LƯỢ G TẠI ƠI LÀM VIỆC 1. Một số lý thuyết về ngân hàng thương mại: 1. Khái niệm về ngân hàng thương mại: Trong nền kinh tế ngày nay, tại một thời điểm nhất định, có một thực tế luôn tồn tại là có những cá nhân đã cần khối lượng tiền để phục vụ cho những nhu cầu tiêu dùng hay nhằm thực hiện những kế hoạch đầu tư có kì vọng hiệu quả, và họ chấp nhận chi trả một khoản chi phí để có quyền sử dụng khoản tiền đó.
Song, trên thực tế, vẫn có những cá nhân tạm thời đang có một khoản tiền nhàn rỗi, muốn dùng nó để đầu tư sinh lời. Theo quy luật cung cầu, họ sẽ gặp nhau trên thị trường khi đó tất cả đôi bên sẽ có lợi, sản xuất lưu thông được phát triển cải thiện, đời sống được cải thiện. Trước đây, theo quy luật tự nhiên, họ gặp nhau theo nhiều hình thức tự phát đa dạng, và theo đà phát triển, N HTM ra đời như một tất yếu và là cách thức quan trọng, phổ biến nhất trong thời đại ngày nay. Có thể dễ dàng hiểu rằng thông qua N HTM, người có tiền sẽ nhận được khoảng lợi trong thời gian nhất định, còn người cần tiền sẽ phải chi trả một mức chi phí phù hợp để nhận về quyền sử dụng tiền.
Đối với một số nước phát triển như Mỹ: N HTM được hiểu như một công ty kinh doanh tiền tệ, tại đây họ sẽ cung cấp các dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp tài chính. Theo Đạo luật N gân hàng của Pháp (1941): N HTM là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng 6 dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính. Theo Luật các Tổ chức tín dụng (2010): N HTM là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận (Theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật tại N ghị định số 59/2009/N Đ-CP của chính phủ về tổ chức và hoạt động N HTM). Ở các nước sẽ có một quan điểm khác nhau về N HTM, nhưng tại Việt N am: N gân hàng thương mại là ngân hàng kinh doanh tiền tệ vì mục đích lợi nhuận, hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng để cấp tín dụng, thực hiện các hoạt động chiết khấu và làm phương tiện thanh toán.
Chức năng của ngân hàng thương mại: Chức năng trung gian tín dụng Đây được xem là một trong những chức năng quan trọng nhất của N gân hàng thương mại. Chức năng này giúp cân bằng nguồn vốn tiền tệ, điều hoà tài chính từ nơi dư thừa đến nơi thiếu hụt góp phần vào việc sản xuất lưu thông được phát triển thúc đNy tăng trưởng kinh tế. Với chức năng này, N gân hàng thương mại đóng vai trò tiếp nhận tiền gửi đồng thời cũng là người cho vay, ngân hàng sẽ được nhận khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay, tạo lợi ích cho các bên tham gia. Chức năng trung gian thanh toán: N hằm thuận tiện hơn trong quá trình thanh toán, các N HTM luôn đNy mạnh việc cung cấp cho khách hàng nhiều phương thức thanh toán tiện lợi như thẻ thanh toán, thẻ tín dụng, uỷ nhiệm chi,… nhờ đó mà các chủ tài 7 khoản không cần giữ tiền mặt vẫn có thể sinh hoạt, đảm bảo an toàn, tiết kiệm thời gian, chi phí.
N HTM ra đời vừa là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và các chủ thể kinh tế, thực hiện các thanh toán và giao dịch theo yêu cầu của khách hàng giúp thúc đNy lưu thông hàng hoá, đNy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ luân chuyển vốn, đNy mạnh tăng trưởng kinh tế. Chức năng tạo tiền: Đây cũng được xem là một chức năng quan trọng của N HTM, được xây dựng dựa trên cơ sở của 2 chức năng thanh toán và tín dụng. N ó thể hiện rõ bản chất và phản ánh mục tiêu của N HTM là tìm kiếm lợi nhuận. N HTM đã giúp tăng lên các phương tiện thanh toán trong lưu thông, đáp ứng các nhu cầu chi trả, thanh toán cho xã hội.
Dựa vào tỷ lệ dự trữ bắt buộc của N gân hàng Trung ương đề ra, N HTM dựa vào đó để tạo tiền. Từ đó, N gân hàng Trung ương có thể tăng tỉ lệ này khi lượng cung tiền trong nền kinh tế lớn. Chức năng thủ quỹ N HTM là nơi nhận tiền, bảo quản tiền, giữ tiền, thực hiện các hiểu cầu thanh toán, chi trả,. cho các khách hàng của mình bao gồm doanh nghiệp hoặc cá nhân.
Vai trò của gân hàng thương mại Sự ra đời của ngân hàng thương mại giúp vận hành dòng vốn tiền tệ trên thị trường từ nơi tạm thời nhàn rỗi dư thừa đến nơi tạm thời thiếu hụt và cần thiết để tham gia vào hoạt động đầu tư. Là nơi xoay vòng, cung cấp nguồn vốn giúp cho nền kinh tế hoạt động và phát triển được liên tục. Các N gân hàng thương mại không chỉ giúp các cá nhân vay vốn mà còn góp phần hỗ trợ các doanh nghiệp vay vốn theo nhiều cách khác nhau như: thế chấp, tín chấp. N hằm giải quyết những khó khăn về nguồn vốn của họ với 8 mục đích đNy mạnh đầu tư, mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao chất lượng sản phNm và tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường.
Tạo ra cầu nối giữa thị trường với doanh nghiệp. N goài ra, các N gân hàng thương mại còn có các dịch vụ cung cấp nhiều loại tài khoản khác nhau như: thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ,… nhằm cất giữ hoặc tạo ra các của cải, tài sản cho các cá nhân, doanh nghiệp. Do đó, tiền mà các chủ thể kinh tế gửi vào N gân hàng thương mại được ngân hàng sử dụng để thực hiện các mục đích cho các chủ thể vay và đầu tư. Lý thuyết về quy trình 5S trong quản lý chất lượng tại nơi làm việc 1.
Khái niệm về quy trình 5S Hình 1.1: Khái niệm về quy trình 5S ( guồn: Internet – Vietquality) Quy trình 5S có nguồn gốc từ truyền thống N hật Bản, ở mọi nơi, trong cuộc sống cũng như trong khuôn viên làm việc, nhà ở hay chốn công sở, người N hật luôn giữ cho mình một tinh thần làm việc có trách nhiệm, khơi dậy ý thức tự giác, sự tự nguyện trong mọi việc mang đến một phong cách 9 làm việc chuyên nghiệp. Họ luôn tìm cách sao cho mọi công nhân viên thực sự gắn bó với nơi làm việc, với công việc. ví dụ trong ngân hàng, người quản lí sẽ khơi dậy ý thức, tinh thần làm việc của mọi người rằng đây là “công việc của tôi”, “máy tính của tôi”, “khách hàng của tôi”. Từ đó, mọi người lao động sẽ tập trung ý thức chăm sóc, bảo vệ những vật dụng, những thứ liên quan đến công việc của mình, để đảm bảo bảo tiến độ công việc của mình được hoàn thành tốt, “máy móc của mình” được bảo vệ, vệ sinh kĩ càng.
Quy trình 5s được trở thành một truyền thống của N hật Bản là nhờ vào sự nỗ lực tiếp thu của các nhà quản lí N hật Bản sau đó phát triển và đNy chương trình 5S thành phong trào phát triển rộng rãi nhiều nơi. Bằng những kinh nghiệm thực tiễn họ đã đúc kết thành lý luận khoa học và cho ra đời chương trình năng suất chất lượng mới 5S. 5S là một nền tảng cơ bản nhằm thực hiện các hệ thống đảm bảo chất lượng, bắt nguồn từ quan điểm: N ếu người lao động được làm việc trong một môi trường lành mạnh, sạch sẽ, thông thoáng, tiện lợi thì họ sẽ có tinh thần làm việc thoải mái hơn, năng suất công việc sẽ cao hơn, từ đó tạo điều kiện để xây dựng một hệ thống quản lí chất lượng được chặt chẽ và hiệu quả hơn, tạo nên hình ảnh văn hoá doanh nghiệp riêng. Quy trình 5S được triển khai tại các phòng ban của công ty, toàn thể nhân viên với mục đích huy động toàn bộ nhân lực tập trung vào việc cải tiến môi trường làm việc, từ đó nâng cao năng suất lao động.
Cho tới bây giờ, 5S được triển khai hầu hết các công ty tại N hật bản, và sớm lan ra phổ biến ở các nước trên thế giới như: Singapore, Hungary, Ba Lan, Thái Lan, Trung Quốc, Uruguay, Brazil,… 5S là chữ viết tắt từ 5 từ N hật Bản bao gồm: Seiri, Seiton, Seiso, Seiketsu và Shitsuke. Có thể tạm dịch là “Sàng lọc”, “Sắp xếp”, “Sạch sẽ”, “Săn sóc” và “Sẵn sàng”. 5S bao gồm các hoạt động sau: 10 *Seiri-Sàng lọc: Hình 1.2: Seiri_Sàng lọc ( guồn: Internet-International Business Training Company) Dù là công ty dịch vụ hay sản xuất, điều đầu tiên khi thực hiện chương trình 5S đó là phải bắt tay vào sàng lọc. Là quá trình doanh nghiệp cần phải loại bỏ những thứ không cần thiết trong môi trường làm việc, và sắp xếp mọi thứ xung quanh họ thành 2 loại: Loại cần dùng và loại không cần dùng.
N guyên tắc sàng lọc được áp dụng tại tất cả các khâu của toàn bộ quá trình sản xuất, bao gồm con người cùng các trang thiết bị vật dụng… và cả những tài liệu, hồ sơ, công văn, giấy tờ. Đối với phân loại thứ không cần dùng: bao gồm tất cả những cái xấu, cái cũ, cái không cần thiết, có thể ảnh hưởng đến hiệu suất công việc hoặc chất lượng sản phNm), tiến hành đánh dấu đỏ. Phân loại không cần dùng được chia làm 2 loại: + N hững thứ có thể thanh lí ngay được: đối với loại khoản vật này, tổ chức tiến hành lên kế hoạch thanh lí hoặc loại bỏ ngay không thương tiếc. 11 + Các khoản vật không cần dùng nhưng chưa thanh lí ngay được: tổ chức tiến hành sắp xếp thành một khu vực khuất, ít bị chú ý nhất.