CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI 1. Khái quát chung về bảo hiểm xã hội 1. Khái niệm và phân loại 1. Khái niệm Mỗi con người đều phải lao động để đảm bảo được nhu cầu tối thiểu nhất trong cuộc sống.
Tuy nhiên thực tế trong quá trình hoạt động lao động tạo ra của cải vật chất cho xã hội, có nhiều rủi ro không thể biết trước và không phòng ngừa được. Cùng với quá trình phát triển xã hội, đặc biệt là từ sau cuộc cách mạng công nghiệp ở thế kỷ XVIII, quá trình công nghiệp hóa làm cho đội ngũ người làm công ăn lương tăng lên, cuộc sống của họ phụ thuộc chủ yếu vào thu nhập do lao động làm thuê đem lại. Sự hẫng hụt về tiền lương trong các trường hợp bị ốm đau, tai nạn, rủi ro, bị mất việc làm hoặc khi về già. đã trở thành mối đe dọa đối với cuộc sống bình thường của những người không có nguồn thu nhập nào khác ngoài tiền lương.
Sự bắt buộc phải đối mặt với những nhu cầu thiết yếu hàng ngày đã buộc những người làm công ăn lương tìm cách khắc phục bằng những hành động tương thân, tương ái (lập các quỹ tương tế, các hội đoàn.); đồng thời, đòi hỏi giới chủ và Nhà nước phải có sự trợ giúp để bảo đảm cuộc sống cho họ. Chính vì vậy đã hình thành hệ thống ASXH và trong đó BHXH là trụ cột chính. Khái niệm ASXH ở những góc độ khác nhau cũng khác nhau, nhưng khái quát chung, có thể đưa ra một khái niệm về ASXH như sau: ASXH là sự bảo vệ của xã hội đối với mọi người dân thông qua các chính sách, giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục các rủi ro hoặc tác động bất thường của tự nhiên, xã hội, nhằm đảm bảo cuộc sống cho mọi thành viên, nhất là người nghèo, người thu nhập thấp, giúp họ ổn định cuộc sống, hòa nhập cộng đồng. 7 Chính sách ASXH luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm.
Chọn phát triển mô hình bảo đảm ASXH dựa trên quan điểm của Tổ chức Lao động thế giới (ILO) với các bộ phận cấu thành là BHXH, BHYT, BHTN; ưu đãi xã hội và bảo trợ xã hội. Đây là mô hình phù hợp với chủ trương, đường lối phát triển của Đảng và Nhà nước ta coi con người là động lực, mục tiêu của sự phát triển. Phát triển BHXH, BHYT thực hiện mục tiêu bao phủ BHXH cho mọi NLĐ và BHYT toàn dân tạo nên một lưới ASXH chủ động, tích cực, hiệu quả và vững chắc nhất. Nhóm trợ giúp xã hội sẽ giảm dần để giảm gánh nợ cho ngân sách nếu thực hiện tốt nhóm trụ cột BHXH, BHYT.
Quan điểm của Đảng và Nhà nước về BHXH đã được thể hiện trong Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959. Điều 32 Hiến pháp 1959 quy định: NLĐ được giúp đỡ về vật chất khi già yếu, bệnh tật hoặc mất sức lao động. Nhà nước mở rộng dần các tổ chức BHXH, cứu tế và y tế để đảm bảo cho mọi người được hưởng quyền đó. Năm 1995, Chính phủ ban hành Điều lệ BHXH, đặc biệt luật BHXH được Quốc hội thông qua, có hiệu lực từ ngày 01/01/2007.
Vậy, bảo hiểm xã hội là gì? - Theo Tổ chức lao động thế giới(ILO): “BHXH là sự bảo vệ của xã hội đối với tất cả các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng để đối phó với những khó khăn về kinh tế xã hội do bị ngừng việc hoặc giảm bớt nhiều về thu nhập, gây ra bởi ốm đau, gây mất khả năng lao động, tuổi già và chết, việc cung cấp chăm sóc y tế và tự cấp cho các gia đình đông con” (Công ước quốc tế 102). Tại Điều 3, Luật BHXH của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 71/QH11 ngày 29 tháng 06 năm 2006 đưa ra khái niệm: BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, TNLĐ, BNN, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH. Dưới góc độ tài chính: BHXH là quá trình san sẻ rủi ro và san sẻ tài chính giữa những người tham gia BHXH theo quy định của pháp luật. 8 Dưới góc độ thu nhập: BHXH là sự đảm bảo thay thế một phần thu nhập khi NLĐ có tham gia BHXH bị mất hoặc giảm thu nhập.
Dưới góc độ quản lý: BHXH là công cụ quản lý của Nhà nước, thực hiện quá trình phân phối và phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong xã hội, góp phần đảm bảo công bằng xã hội. Tóm lại, có thể hiểu BHXH là hệ thống bảo đảm khoản thu nhập thay thế cho NLĐ khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập trong các trường hợp được quy định trong Luật BHXH, thông qua việc hình thành và sử dụng quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia và có sự ủng hộ của Nhà nước. Phân loại Hiện nay, có hai loại hình BHXH cơ bản: BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện. - BHXH bắt buộc là loại hình BHXH mà NLĐ và người SDLĐ phải tham gia.
- BHXH tự nguyện là loại hình BHXH mà NLĐ tự nguyện tham gia, được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình để hưởng chế độ BHXH. Vai trò của bảo hiểm xã hội Các hình thức bảo hiểm nói chung, bao gồm cả BHXH, trong quá trình tồn tại đã thực hiện các vai trò to lớn sau: - Nhanh chóng góp phần ổn định cuộc sống, khôi phục sản xuất và làm cho sản xuất kinh doanh của những người tham gia bảo hiểm tiếp tục phát triển bình thường nếu như đối tượng bảo hiểm của họ gặp rủi ro, sự cố gây tổn thất. - Nếu tham gia bảo hiểm, các cá nhân, tổ chức kinh tế - xã hội sẽ được nhà bảo hiểm phối hợp quản lý rủi ro, thực hiện các biện pháp đề phòng và hạn chế tổn thất. Là một hình thức bảo hiểm với mục đích xã hội, phi lợi nhuận, BHXH vừa thục hiện vai trò chung của bảo hiểm, vừa thực hiện vai trò đặc biệt của mình trong đời sống kinh tế, xã hội.
Đối với người lao động Mục đích chủ yếu của BHXH là đảm bảo thu nhập cho NLĐ và gia đình họ khi gặp những khó khăn trong cuộc sống làm giảm hoặc mất thu nhập. Vì vậy, BHXH có vai trò to lớn đối với NLĐ. Trước hết, đó là điều kiện cho NLĐ được cộng đồng tương trợ khi ốm đau, tai nạn. Đồng thời, BHXH cũng là cơ hội để mỗi người thực hiện trách nhiệm tương trợ cho những khó khăn của các thành viên khác.
Tham gia BHXH còn giúp NLĐ nâng cao hiệp quả trong chi dùng cá nhân, giúp họ tiết kiệm những khoản nhỏ, đều đặn để có nguồn dự phòng cần thiết chi dùng khi về già, mất sức lao động. góp phần ổn định cuộc sống cho bản thân và cho gia đình. Nhờ có BHXH, cuộc sống của những thành viên trong gia đình NLĐ, nhất là trẻ em, người tàn tật, góa bụa. cũng được đảm bảo an toàn.
Đối với tổ chức sử dụng lao động BHXH giúp cho các tổ chức SDLĐ nói chung, hay các DN nói riêng ổn định hoạt động, ổn định sản xuất kinh doanh thông qua việc phân phối các chi phí cho NLĐ một cách hợp lý. Qua việc phân phối chi phí cho NLĐ hợp lý, BHXH góp phần làm cho lực lượng lao động mỗi đơn vị ổn định, sản xuất kinh doanh được liên tục, hiệu quả, các bên của quan hệ lao động cũng gắn bó với nhau hơn. BHXH tạo điều kiện để người SDLĐ có trách nhiệm với NLĐ, không chỉ khi trực tiếp SDLĐ mà trong suốt cuộc đời NLĐ, cho đến khi già yếu. Như vậy, BHXH làm cho quan hệ lao động có tính nhân văn sâu sắc.
BHXH còn giúp cho đơn vị SDLĐ ổn định nguồn chi, ngay cả khi có rủi ro lớn xảy ra thì cũng không lâm vào tình trạng nợ nần hay phá sản. Tuy nhiên, BHXH hầu như không mang lại lợi ích trực tiếp nên không phải bao giờ người SDLĐ cũng nhận thức đúng được vai trò của nó. Đối với xã hội BHXH mang lại những vai trò to lớn đối với xã hội. BHXH tạo ra cơ chế chia sẻ rủi ro, nâng cao tính cộng đồng, củng cố truyền thống đoàn kết, gắn bó giữa các thành viên trong xã hội.
10 Hiện nay, khi đã trở thành một cấu phần cơ bản nhất trong hệ thống ASXH, BHXH là cơ sở để phát triển các bộ phận ASXH khác. Trên cơ sở đó, BHXH là căn cứ để đánh giá trình độ quản lý rủi ro của từng quốc gia và mức độ ASXH đạt được trong mỗi nước. BHXH còn là sự phản ánh trình độ phát triển kinh tế, xã hội của một quốc gia. Thông qua hệ thống BHXH, trình độ tổ chức, quản lý rủi ro xã hội của nhà nước cũng ngày càng được nâng cao, thể hiện bằng việc mở rộng đối tượng tham gia, đa dạng về hình thức bảo hiểm, quản lý được nhiều trường hợp rủi ro trên cơ sở phát triển các chế độ BHXH.
Hoạt động BHXH cũng góp phần vào việc huy động vốn đầu tư, làm cho thị trường tài chính phong phú và kinh tế xã hội phát triển. Ở Việt Nam, thông qua chính sách BHXH bắt buộc, BHXH còn góp phần làm cho quá trình từ sản xuất nhỏ tiến lên sản xuất lớn nhanh chóng hơn. Với chức năng của mình, BHXH là một khâu không thể thiếu trong việc góp phần ổn định xã hội, phát triển kinh tế đất nước. Nguyên tắc bảo hiểm xã hội Điều 5, Luật BHXH số 58/2014/QH13 ngày 20/11/2014 nêu ra các nguyên tắc BHXH, cụ thể: Mức hưởng BHXH được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng BHXH và có chia sẻ giữa những người tham gia BHXH.
Mức đóng BHXH bắt buộc được tính trên cơ sở tiền lương tháng của NLĐ. Mức đóng BHXH tự nguyện được tính trên cơ sở mức thu nhập tháng do NLĐ lựa chọn. NLĐ vừa có thời gian đóng BHXH bắt buộc vừa có thời gian đóng BHXH tự nguyện được hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử tuất trên cơ sở thời gian đã đóng BHXH. Thời gian đóng BHXH đã được tính hưởng BHXH một lần thì không tính vào thời gian làm cơ sở tính hưởng các chế độ BHXH.
Quỹ BHXH được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch; được sử dụng đúng mục đích và được hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần, các 11 nhóm đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định và chế độ tiền lương do người SDLĐ quyết định.