phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bố cục gồm 04 chương: - Chƣơng 1. Những vấn đề lý luận và thực tiễn về dự án, quản lý dự án đầu tƣ xây dựng; - Chƣơng 2. Phƣơng pháp nghiên cứu; - Chƣơng 3. Thực trạng công tác quản lý dự án đầu tƣ xây dựng tại một số trƣờng Cao đẳng trực thuộc Bộ Công Thƣơng ở tỉnh Thái Nguyên; - Chƣơng 4.
Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tƣ xây dựng tại một số trƣờng Cao đẳng trực thuộc Bộ Công Thƣơng ở tỉnh Thái Nguyên. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 5 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DỰ ÁN, QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƢ XÂY DỰNG 1. Cơ sở lý luận về dự án, quản lý dự án đầu tƣ 1. Cơ sở lý luận về dự án 1.
Khái niệm dự án a) Theo phương diện phát triển Dự án là một lĩnh vực hoạt động đặc thù, một nhiệm vụ cần phải được thực hiện với phương pháp riêng, nguồn lực riêng và theo một kế hoạch tiến độ nhằm tạo ra một thực thể mới. Dự án không chỉ là một ý định phác thảo mà có tính cụ thể và mục tiêu xác định; Dự án không phải là một nghiên cứu trìu tượng mà tạo nên một thực thể mới. b) Theo phương diện quản lý Dự án là những nỗ lực có thời hạn nhằm tạo ra một sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất. Mọi dự án đầu tư đều có điểm bắt đầu và điểm kết thúc xác định.
Dự án kết thúc khi mục tiêu của dự án đã đạt được hoặc dự án bị loại bỏ. Những đặc trưng cơ bản của dự án Dự án có mục đích, kết quả xác định. Tất cả các dự án đều phải có kết quả được xác định rõ. Kết quả này có thể là một tòa nhà, một dây chuyền sản xuất hiện đại hay là chiến thắng của một chiến dịch vận động tranh cử vào một vị trí chính trị.
Mỗi dự án lại bao gồm một tập hợp nhiều nhiệm vụ cần được thực hiện. Mỗi nhiệm vụ cụ thể lại có một kết quả riêng, độc lập. Tập hợp các kết quả cụ thể hình thành nên kết quả chung của dự án. Dự án là một hệ thống phức tạp, được phân thành nhiều bộ phận, phân hệ khác nhau để thực hiện và quản lý nhưng đều phải thống nhất đảm bảo các mục tiêu chung về thời gian, chi phí và việc hoàn thành với chất lượng cao.
Dự án có chu kỳ phát triển riêng và có thời gian tồn tại hữu hạn. Dự án là một sự sang tạo. Giống như các thực thể sống, dự án cũng trải qua các giai đoạn: Hình thành, phát triển, có thời điểm bắt đầu và kết thúc.Dự án không kéo dài mãi mãi. Khi dự án kết thúc, kết quả dự án được chuyển giao cho bộ phận quản lý, vận hành, nhóm quản trị dự án giải tán.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 6 Sản phẩm của dự án mang tính đơn chiếc, độc đáo. Khác với quá trình sản xuất liên tục và gián đoạn, kết quả của dự án không phải là sản phẩm sản xuất hàng loạt, mà có tính khác biệt cao. Sản phẩm và dịch vụ do dự án mang lại là duy nhất, hầu như không lặp lại như kim tự tháp Ai Cập, hay đê chắn lũ sông Thames ở London. Tuy nhiên, ở nhiều dự án khác tính duy nhất ít rõ ràng hơn và bị che đậy bởi tính tương tự giữa chúng.
Nhưng đều khẳng định chúng có vị trí khác nhau, khách hàng khác. Dự án liên quan đến nhiều bên và có sự tương tác phức tạp giữa các bộ phận quản lý chức năng với quản lý dự án. Dự án đều có sự tham gia của nhiều bên hữu quan như chủ đầu tư, người hưởng thụ dự án, các nhà tư vấn, nhà thầu, các cơ quan quản lý nhà nước. Tùy theo tính chất của dự án và yêu cầu của chủ đầu tư mà sự tham gia của các thành phần trên cũng khác nhau.
Giữa các bộ phận quản lý chức năng và bộ phận quản lý dự án thường xuyên có quan hệ qua lại với nhau và cùng phối hợp thực hiện nhiệm vụ nhưng mức độ tham gia của các bộ phận không giống nhau. Để thực hiện thành công mục tiêu của dự án, các nhà quản lý dự án cần duy trì thường xuyên mối quan hệ với các bộ phận quản lý khác. Môi trường hoạt động “va chạm”. Quan hệ giữa các dự án là quan hệ chia nhau cùng một nguồn lực khan hiếm của tổ chức.
Dự án “ cạnh tranh” lẫn nhau và với các hoạt động tổ chức sản xuất khác về tiền vốn, nhân lực, thiết bị… trong quản lý, nhiều trường hợp, các thành viên ban quản lý dự án lại có “hai thủ trưởng” nên không biết nghe mệnh lệch của cấp trên trực tiếp nào nếu hai mệnh lệnh mâu thuẫn nhau…Do đó, môi trường quản lý dự án có nhiều quan hệ phức tạp, năng động. Tính bất định và độ rủi ro cao. Hầu hết các dự án đòi hỏi quy mô tiền vốn, vật tư và lao động rất lớn để thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định. Mặt khác, thời gian đầu tư và vận hành kéo dài nên các dự án đầu tư phát triển thường có độ rủi ro cao.
Vai trò của dự án đầu tư a) Đối với nền kinh tế - xã hội Dự án là một bộ phận cấu thành trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội có vai trò thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng đảm bảo công bằng và phát triển bền vững môi trường sinh thái. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 7 Dự án là cơ sở để thực hiện tốt các mục tiêu kế hoạch đặt ra thông qua các chương trình và mối quan hệ này có tính hệ thống , logic. Việc quản lý thực hiện tốt các dự án là cơ sở để hoàn thành tốt mục tiêu các chương trình và chỉ tiêu kế hoạch đã xây dựng. b) Đối với nhà nước Dự án là cơ sở để Nhà nước thẩm định và ra quyết định đầu tư.
Văn bản phê duyệt dự án của Nhà nước là cơ sở khẳng định tính khả thi của dự án về các mặt như: Tài chính, kinh tế - xã hội và môi trường đồng thời cũng là căn cứ cấp vốn thực hiện dự án. c) Đối với chủ đầu tư + Dự án là cơ sở để ra quyết định đầu tư, để xin cấp phép được đầu tư. + Dự án là cơ sở để tìm đối tác cùng thực hiện và huy động vốn đầu tư. + Dự án là cơ sở để giải quyết các mối quan hệ và quyền lợi và nghĩa vụ giữa các bên tham gia thực hiện dự án.
Cơ sở lý luận về quản lý dự án 1. Khái niệm Quản lý dự án Quản lý dự án là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực và giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng thời hạn, trong phạm vi ngân sách được duyệt và đạt được các yêu cầu đã định về kỹ thuật và chất lượng sản phẩm dịch vụ, bằng những phương pháp và điều kiện tốt nhất cho phép. Quản lý dự án bao gồm ba giai đoạn chủ yếu. Đó là việc lập kế hoạch, điều phối thực hiện mà nội dung chủ yếu là quản lý tiến độ thời gian, chi phí và thực hiện giám sát các công việc dự án nhằm đạt được những mục tiêu xác định.
Lập kế hoạch. Đây là giai đoạn xây dựng mục tiêu, xác định công việc, dự tính nguồn lực cần thiết để thực hiện dự án và là quá trình phát triển một kế hoạch hành động thống nhất, theo trình tự logic, có thể biểu diễn dưới dạng các sơ đồ hệ thống hoặc theo phương pháp lập kế hoạch truyền thống. Điều phối thực hiện dự án. Đây là quá trình phân phối nguồn lực bao gồm tiền vốn, lao động, thiết bị và đặc biệt quan trọng là điều phối và quản lý tiến độ thời gian.
Giai đoạn này chi tiết hóa thời gian, lập lịch trình cho từng công việc và Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 8 toàn bộ dự án (Khi nào bắt đầu, khi nào kết thúc), trên cơ sở đó, bố trí tiền vốn, nhân lực và thiết bị phù hợp. Là quá trình theo dõi kiểm tra tiến trình dự án, phân tích tình hình thực hiện, báo cáo hiện trạng và đề xuất biện pháp giải quyết những vướng mắc trong quá trình thực hiện. Cùng với hoạt động giám sát, công tác đánh giá dự án giữa kỳ và cuối kỳ cũng được thực hiện nhằm tổng kết rút kinh nghiệm, kiến nghị các phía sau dự án. Các giai đoạn của quá trình quản lý dự án hình thành một chu trình năng động từ việc lập kế hoạch đến việc điều phối thực hiện và giám sát, sau đó phản hồi cho việc tái lập kế hoạch dự án: Sơ đồ 1.
Chu trình quản lý dự án Mục tiêu của quản lý dự án nói chung là hoàn thành các công việc dự án theo đúng yêu cầu kỹ thuật và chất lượng, trong phạm vi ngân sách được duyệt và theo tiến độ thời gian cho phép. Về mặt toán học, ba mục tiêu này liên quan chặt chẽ với nhau và có thể biểu diễn theo công thức sau: C = f(P,T,S) Trong đó: C: Chi phí P: Mức độ hoàn thành công việc (kết quả) T: Yếu tố thời gian Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 9 S: Phạm vi dự án Phương trình trên cho thấy, chi phí là một hàm của các yếu tố: Mức độ hoàn thành công việc, thời gian thực hiện và phạm vi dự án. Nói chung, chi phí của dự án tăng lên khi chất lượng hoàn thiện công việc tốt hơn, thời gian kéo dài thêm và phạm vi dự án được mở rộng. Nếu thời gian thực hiện dự án bị kéo dài, gặp trường hợp giá nguyên vật liệu tăng cao sẽ phát sinh tăng chi phí một số khoản mục nguyên vật liệu.
Mặt khác, thời gian kéo dài dẫn đến tình trạng làm việc kém hiệu quả do công nhân mệt mỏi, do chờ đợi và thời gian máy chết tăng theo…làm phát sinh tăng một số khoản mục chi phí. Thời gian thực hiện dự án kéo dài, chi phí lãi vay ngân hàng, chi phí gián tiếp cho bộ phận (chi phí hoạt động của Ban quản lý dự án) tăng theo thời gian và nhiều trường hợp, phát sinh tăng thêm khoản tiền phạt do không hoàn thành đúng tiến độ ghi trong hợp đồng. Ba yếu tố: thời gian, chi phí và mức độ hoàn thiện công việc có quan hệ chặt chẽ với nhau.