Chương I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỊ HÀNH ÁN DÂN SỰ 1. KHÁI NIEM, NGUYEN TÁC, Ý NGHĨA CUA THI HANH ÁN DÂN SỰ 1. Khái niệm thi hành án Xét trong mối quan hệ với quyền lập pháp và quyền hành pháp thì quyền tư pháp thực hiện xoay quanh trục của hoạt động xét xử, là quá trình đi tìm chân lý để áp dụng công lý, phán quyết sự công bằng theo quy định của pháp luật. Toàn bộ hoạt động điều tra, truy tố và các hoạt động bổ trợ tư pháp đều nhằm phục vụ công tác xét xử để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, cơ quan, tổ chức và của công dân.
Song quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án mới chỉ là những giai đoạn đầu của quá trình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Kết thúc giai đoạn xét xử, Tòa án đưa ra những phán quyết về nội dưng vụ án, kết án người phạm tội hay tuyên bố một người là vô tội hoặc xác định quyền và nghĩa vụ của các bên. Bản án của Tòa án thể hiện quyền lực tối cao của Nhà nước trong việc quản lý xã hội nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước và các chủ thể khác, bảo đảm trật tự, kỷ cương. Khi những phán quyết đó của Tòa án được thực thi trên thực tế, thì quyền tư pháp của Nhà nước mới được thực hiện tron ven, công lý mới trở thành hiện thực, trật tự pháp luật mới được khôi phục.
Chính vì vậy, Điều 136 của Hiến pháp 1992 đã nêu rõ: "Các bản án và quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân tôn trọng; những người và đơn vị hữu quan phải nghiêm chính chấp hành". vấn đề bảo đảm hiệu lực bản án, quyết định của Tòa án là yêu cầu tất yếu khách quan trong hoạt động nhà nước, là nguyên tac hiến định chỉ đạo toàn bộ ié chức và hoạt động thi hành án ở nước ia từ nhiều năm nay. Suốt từ nam 1945 đến nay. thi hành án luôn được coi là hoạt động của Nha nước, là một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng trong chức năng đối nội của Nhà nước ta.
Thi hành án vừa có những đặc tính phổ biến của một dạng hoạt động nhà nước, vừa có những đặc trưng cơ bản sau đây: a) Thi hành án là một hoạt động diễn ra sau quá trình xét xử của Tòa án. Các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật là cơ sở để tiến hành các hoạt động thi hành án. Do đó, có thể khẳng định rằng: không có kết quả của hoạt động xét xử thì không thể có hoạt động thi hành án. Song thi hành án là một dạng hoạt động hành chính - tư pháp, chứ không phải là hoạt động tố tụng (hình sự, dân sự), bởi vì xét về mặt bản chất của vấn đề, thì thi hành án hoàn toàn khác với tố tụng.
Bản chất và mục đích của tố tụng là xác định sự thật của các vụ việc để trên cơ sở đó giải quyết từng trường hợp theo đúng quy định của pháp luật. Toàn bộ quá trình tố tụng diễn ra theo một trình tự hết sức chặt chẽ, tuân thủ các nguyên tac bình đẳng, công khai, dân chủ, tôn trọng quyền và lợi ích của người tham gia tố rụng. Khi có phán quyết của Tòa án, nghĩa là khi sự thật đã được khẳng định và việc áp dụng pháp luật đã hoàn thành thì quá trình tố tụng kết thúc. Có thể nói một cách hình ảnh thì tố tụng là quá trình đi tìm chân lý để áp dụng công lý (pháp luật).
Trong khi đó, thi hành án là quá trình thực thi chân lý bằng công lý. Ở đây chân lý đã rõ, có tội hay vô tội, đúng hay sai đã được phân xử rõ ràng, còn thi hành án là quá trình tiến hành các hoạt động nhằm thực hiện các bản án và quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật [49, tr. b) Thi hành án là hoạt động có tính chấp hành, vì thi hành án chỉ được tiến hành trong khuôn khố pháp luật quy định nhằm thực hiện các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Tuy vây, tính chấp hành trong thi hành án có những nét đặc thù nêng, bởi lẽ đây là hoạt động chủ yếu do cơ quan tư pháp (theo nghĩa rộng) hay đối tượng phải thi hành án tiến hành.
Mặt 10 khác, cơ sở để tiến hành các hoạt động thi hành án bao gồm các quy định của pháp luật (thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật) và bản án, quyết định của Tòa án (văn bản áp dụng pháp luật) đã có hiệu lực pháp luật. Hơn nữa, mục đích cuối cùng của hoạt động thi hành án là bao đảm cho các nội dung của các bản án quyết, định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật được thực thi chứ không phải là ra các văn bản áp dụng pháp luật hoặc các quyết định có tính điều hành như trong hoạt động của cơ quan hành chính. c) Thị hành án là hoạt động có tính quản lý, vì nó đòi hỏi các yếu tố kế hoạch, tổ chức, đôn đốc, kiểm tra, xử lý. nhằm tác động tới các đối tượng phải thi hành án để họ tự nguyện thi hành hoặc áp dung các biện pháp buộc ho phải thi hành nghĩa vụ đã được xác định trong các bản án, quyết định của Tòa án.
Qua đó, giáo dục họ và những người xung quanh về ý thức tôn trọng pháp luật, tôn trọng lợi ích của tập thể và cá nhân, tôn trọng trật tự, kỷ cương, kỷ luật Nhà nước và đoàn thể. Trong trường hợp này, tính chất quản lý cũng có những đặc trưng riêng về chủ thể, đối tượng và khách thể quản lý; phạm vi và phương pháp quản lý. d) Đối với thi hành án, phương pháp giáo dục, thuyết phục hết sức cần thiết, nhưng phương pháp mệnh lệnh, bắt buộc phải thi hành lại có tính chất đặc trưng (đặc biệt trong thi hành án hình sự đó là phương pháp chủ yếu). Ngay cả việc tự nguyện của người phải thị hành án cũng chính là trên cơ sở họ nhận thức được tính bắt buộc, cưỡng chế trong việc thực thi bản án, quyết định của Tòa án.
đ) Thi hành án không chi là hoạt động chuyên môn, nghiệp vu đơn thuần mà còn có ý nghĩa chính trị, xã hội rộng lớn, đòi hỏi phải có sự tham gia của nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều cơ quan. Xuất phát nừ những đặc trưng trên đây, có thể hiểu thi hành án là hoại động hành chính - tu pháp mang tinh quyền lực nhà nước, do các cơ quan nhà nước có thấm quyền tiến hành theo trình tự, thủ lục do pháp luật quy định, 11 nhằm buộc người bị kết án phải chịu các hình phạt hoặc buộc những cá nhân, tổ chức phải thực hiện các nghĩa vụ theo bản án, quyết định của Tòa án. Khái niệm và đặc trưng của thi hành án dân sự Kết thúc quá trình giải quyết các tranh chấp về dân sự, Tòa án ra bản án, quyết định trong đó xác định các quan hệ pháp lý, sự kiện pháp lý, buộc người phải thi hành án có nghĩa vụ phải làm một việc hoặc không làm một việc vì lợi ích của người được thi hành án. Việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án là một giai đoạn độc lập, tiếp theo sau giai đoạn xét xử.
Căn cứ theo Pháp lệnh thi hành án dân sự hiện hành - văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất trong lĩnh vực thi hành án dân sự, thì việc thi hành án dân sự chỉ bao gồm các bản án, quyết định về dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự (Điều 1). Song, từ sau khi Pháp lệnh thi hành án dân sự 1993 được ban hành đến nay, Nhà nước ta cũng đã ban hành một loạt các văn bản pháp luật như: Bộ luật dân sự, Luật phá sản doanh nghiệp, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng hình sự; Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính, Pháp lệnh công nhận và thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, Pháp lệnh công nhận và thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài. trên cơ sở đó, phạm vi, nội dung của thi hành án dân sự đã mở rộng hơn nhiều so với trước. Nhiều vụ việc có tính chất khác nhau, được giải quyết theo các trình tự tố tụng khác nhau, nhưng đến giai đoạn thi hành án đều được áp dụng theo trình tự, thủ tục thi hành án dân sự.
Theo quy định tại các văn bản nêu trên, thì phạm vi của thi hành án dân sự hiện nay gồm có: Bản án, quyết định về dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình; Quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự (phạt tiền, tịch thu tài sản, án phi): Quyết định về tài sản và quyền tài sản trong bản án, quyết 12 định hành chính; Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành ở Việt Nam. Việc ban hành Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993 đã tạo ra bước ngoặt mới trong sự phát triển của pháp luật về thi hành án dân sự, là cơ sở pháp lý vững chắc cho việc hình thành tổ chức và hoạt động thi hành án theo một cơ chế mới, bước đầu đã mang lại những kết quả khả quan trong công tác thi hành án dân sự. Tuy nhiên, từ khi Pháp lệnh thi hành án dân sự 1993 và các van bản pháp luật có liên quan được ban hành, thì cũng phát sinh những ý kiến khác nhau về tính chất đặc trưng của thi hành án dân sự. Loại ý kiến thứ nhất cho rằng, thi hành án dân sự thuộc tố tụng dân sự, giai đoạn thi hành án là giai đoạn cuối cùng của tố tụng dân sự vì nó mang đầy đủ tính chất, đặc trưng của tố tung dân sự.
Quan niệm này cho rằng, cơ quan thi hành án dân sự hiện nay tuy được đặt trong hệ thống các cơ quan hành chính, nhưng nó không có chức năng quản lý hành chính mà chỉ có chức năng thực hiện các bản án, quyết định của Tòa án - cơ quan xét xử.