mở đầu quan trong trong quá trình phân tích xác định rõ phương hướng, đây sẽ là cơ sở cho các bước tiếp theo trong quy trình. Bước 2: Thu thập và xử lí thông tin Nhà phân tích thu thập các thông tin cần thiết bao gồm cả thông tin tài chính và thông tin phi tài chính. Các thông tin này có thể do khách hàng doanh nghiệp cung cấp theo yêu cầu từ phía ngân hàng, hay thông tin tự tìm kiếm thu thập. Bước 3: Phân tích, đánh giá tình hình tài chính của khách hàng 11 Từ những thông tin thu thập được, các nhà phân tích tiến hành phân tích sử dụng các phương pháp phân tích như phương pháp so sánh, phương pháp tính tỷ số, phương pháp cân đối.
Trình bày bày kết quả một cách trực quan, dễ hiểu. Từ đó đánh giá điểm mạnh, yếu của khách hàng, tìm ra những vẫn đề đáng quan tâm và xác định nghuyên nhân của nó. Bước 4: Kết luận, dự đoán và ra quyết định Từ những nội dung phân tích được các nhà phân tích tổng hợp kết quả, rút ra nhận xét và dự bảo xu hướng của khách hàng trong tương lai đồng thời ra quyết định phù hợp. Để phân tích tài chính doanh nghiệp được triển khai một cách có hiệu quả, cung cấp được thông tinh hữu ích kịp thời cho quá trình ra quyết định, thì quy trình phân tích phải được tổ chức khoa học, hợp lý, phù hợp với đặc điểm kinh doanh, cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính của doanh nghiệp và phù hợp với mục tiêu của nhà phân tích.
Các phương pháp chủ yếu sử dụng trong phân tích tài chính khách hàng doanh nghiệp tại NHTM Để tiến hành phân tích tài chính của một doanh nghiệp, các nhà phân tích thường kết hợp sử dụng các phương pháp, kỹ thuật khác nhau như phương pháp so sánh, phương pháp loại trừ, phương pháp dự báo, phương pháp Dupont. Mỗi một phương pháp có những tác dụng khác nhau và được sử dụng một cách hòa hợp, đem lại kết quả tốt nhất co người phân tích. Các phương pháp phân tích thường được sử dụng: 1. Phương pháp so sánh Phương pháp so sánh là phương pháp đơn giản nhất và được sử dụng phổ biến hầu hết trong tất cả các báo cáo phân tích.
Ta có thể so sánh giữa số thực tế kỳ này với số thực tế kỳ trước để thấy rõ xu hướng biến đổi của doanh nghiệp; so sánh giữa số thực tế với số kế hoạch để thấy rõ mức độ hoàn thành kế hoạch của doanh nghiệp; so sánh giữa số thực tế kỳ này với mức trung bình của ngành để thấy vị thế của doanh nghiệp so với doanh nghiệp cùng ngành… 12 Có dạng so sánh là so sánh bằng số tuyệt đối, so sánh bằng số tương đối. Trong phân tích tài chính, so sánh theo chiều dọc để thấy tỷ trọng của từng chỉ tiêu đối với chỉ tiêu gốc và qua đó chỉ ra ý nghĩa, mức độ ảnh hưởng của các chỉ tiêu cấu thành; so sánh theo chiều ngang để thấy được sự biến động cả về số tuyệt đối và số tương đối của một khoản mục nào đó qua các kỳ kế toán liên tiếp. So sánh bằng số tuyệt đối sẽ phản ánh qui mô của chỉ tiêu nghiên cứu, các nhà phân tích sẽ thấy rõ được sự biến động về qui mô của chỉ tiêu nghiên cứu giữa kỳ phân tích với kỳ gốc. Khi so sánh bằng số tương đối, các nhà quản lý sẽ nắm được kết cấu, mối quan hệ, tốc độ phát triển, xu hướng biến động, của các chỉ tiêu kinh tế.
Khi sử dụng phương pháp này các nhà phân tích phải lưu ý đến việc lựa chọn gốc so sánh và khả năng so sánh được của các chỉ tiêu. Gốc so sánh phải được chọn đảm bảo có ý ngĩa kinh tế, bao hàm được các chỉ tiêu cần thiết, gốc so sánh có thể là gốc về không gian hoặc gốc về thời gian tùy thuộc vào mục đích phân tích. Các chỉ tiêu muốn so sánh được phải dảm bảo thống nhất về nội dung kinh tế, phương tính toán, thời gian và đơn vị tính toán, đo lường. Mục tiêu chung của phương pháp này là chỉ ra được xu hướng biến động của các chỉ tiêu kinh tế từ đó suy ra quy luật biến động của chỉ tiêu đó, dự đoán trong tương lai phục vụ cho việc ra quyết định.
Ngoài ra nó còn cho thấy cơ cấu của chỉ tiêu gốc, mức độ ảnh hưởng của các chỉ tiêu cấu thành đến chỉ tiêu gốc. Phương pháp tỷ số Phương pháp tỷ số là phương pháp phổ biến khi phân tích tài chính doanh nghiệp, phương pháp này thường lấy những tỷ số giữa chỉ tiêu này so với chỉ tiêu khác để phân tích. Một tỷ số được sử dụng sẽ biểu hiện trực tiếp mối quan hệ giữa các chỉ tiêu được sử dụng. Muốn sử dụng phương pháp này để đánh giá tài chính doanh nghiệp, cần xác định được các ngưỡng, những định mức, nên kết hợp so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp với các tỷ lệ tham chiếu.
Đây là phương pháp giúp người phân tích khai thác những số liệu một cách hiệu quả, nghiên cứu phân tích hàng loạt 13 các tỷ lệ một cách có hệ thống trong các khoảng thời gian liên tục hoặc theo từng giai đoạn. Trong phân tích tài chính khách hàng doanh nghiệp, các tỷ số được phân vào các nhóm với các đặc trưng riêng biệt, phản ảnh những nội dung tương tự nhau. Các nhóm tỷ số thường được sử dụng là nhóm tỷ số về khả năng thanh toán, tỷ số về cơ cấu tài sản và nguồn vốn, tỷ số về khả năng sinh lời, tỷ số phản ánh năng lực hoạt động của doanh nghiệp… Tùy vào mục đích phân tích mà các nhà phân tích lựa chọn một số các nhóm chỉ tiêu khác nhau phù hợp với đối tượng phân tích. Tỷ số được sử dụng để phân tích phải hàm chứa những ý nghĩa kinh tế nhất định, nghĩa là các yếu tố cấu thành phải có mối quan hệ có nghĩa, ví dụ: Mối quan hệ giữa lợi nhuận và doanh thu, trong đó doanh thu là bộ phận cấu thành lên lợi nhuận của doanh nghiệp, việc thay đổi doanh thu sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận đồng thời thể hiện hiệu quả sử dụng chi phí của doanh nghiệp đó.
Các tỷ số này đều có những khoảng biến động, qua đó ta đánh giá được chất lượng của chỉ tiêu đồng thời kết hợp với việc so sánh với tỷ lệ của các kỳ trước ta thấy được xu hướng biến động của chỉ tiêu, xu hướng này là tích cực hay tiêu cực đối với doanh nghiệp? và nguyên nhân của xu hương đó là gì? Phương pháp này cũng bộc lộ nhiều khuyết điểm như các tỷ lệ được phản ánh bằng giá trị số học và chưa được tiêu chuẩn hóa hoàn toàn, các hạn mức là tương đối. Nhưng vì có tính thực tiễn cao nên phương pháp này vẫn được sử dụng rộng rãi và để hiểu được chính xác bản chất của số liệu, của mối liên hệ giữa các chỉ tiêu ta nên kết hợp sử dụng với các phương pháp phân tích khác. Phương pháp này cũng là cơ sở của nhiều phương pháp phân tích khác. Phương pháp phân tích tài chính Dupont Phương pháp phân tích tài chính Dupont phát minh bởi F.
Donaldson Brown- một kỹ sư điện làm việc tại bộ phận tài chính của một công ty hóa học. Ông đã chỉ ra mối quan hệ tương hỗ giữa các chỉ số hoạt động trên phương diện chi phí và các chỉ số hiệu quả sử dụng vốn. mà sử dụng nhiều nhất cho việc phân tích các tỷ số ROA (Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản), ROE (Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu). 14 Phương pháp này được sử dụng để phân tích mối liên hệ giữa các chỉ tiêu tài chính.
Nhờ đó, ta có thể phát hiện ra những nhân tố đã ảnh hưởng đến chỉ tiêu ROE, ROA theo một trình tự nhất định. Nếu phân tích theo Dupont ta được (ROS: Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu) Tương tự với chỉ tiêu ROE Như vậy nhờ có phương pháp Dupont ta đã phân tích các tỷ số phức tạp thành các tỷ số thành phần, bao quát được các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu đó. Qua đó thấy được mối quan hệ giữa các chỉ tiêu, tình trạng hiện tại của doanh nghiệp, làm cơ sở đánh giá các nguyên nhân ảnh hưởng đến doanh nghiệp và giúp các nhà quản trị ra quyết định phù hợp. Tuy nhiên chất lượng phương pháp này chịu ảnh hưởng lớn vào mức độ đáng tin cậy của số liệu từ BCTC.
Phương pháp xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố Đây là phương pháp được sử dụng để xác định xu hướng và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến sự biến động của chỉ tiêu nghiên cứu. Có nhiều phương pháp để xác định ảnh hưởng của các nhân tố, sử dụng phương pháp nào sẽ do nhà 15 phân tích lựa chọn tuỳ thuộc vào mối quan hệ giữa chỉ tiêu phân tích với các nhân tố ảnh hưởng. Phương pháp xác này còn gọi là phương pháp loại trừ bởi vì để nghiên cứu ảnh hưởng của một nhân tố ta phải giữ nguyên nhân tố đó và loại trừ ảnh hưởng của nhân tố khác. Đặc điểm của phương pháp này là luôn đặt đối tượng phân tích vào các giả định khác nhau.
Các phương pháp xác định ảnh hưởng là phương pháp thay thế liên hoàn, phương pháp số chênh lệch hay phương pháp cân đối. Phương pháp thay thế liên hoàn là phương pháp xác định ảnh hưởng của từng nhân tố bằng cách thay thế lần lượt từ giá trị kỳ gốc sang kỳ phân tích các nhân tố để xác định giá trị của chỉ tiêu khi nhân tố đó thay đổi. Sau đó, so sánh giá trị của chỉ tiêu vừa tính được với giá trị của chỉ tiêu khi chưa có sự thay đổi của nhân tố cần xác định ta sẽ tính được mức độ ảnh hưởng của nhân tố đó. Chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu là Q và chịu ảnh hưởng bởi ba nhân tố a, b, c.