Phần mở đầu Phần nội dung - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về kế toán tiền lƣơng và các khoản trích theo lƣơng - Chƣơng 2: Thực trạng tổ chức kế toán tiền lƣơng và các khoản trích theo lƣơng tại Xí nghiệp cơ khí tàu thuyền và kinh doanh tổng hợp công ty 128 - Chƣơng 3: Một số ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện công tác kế toán tiền lƣơng và các khoản trích theo lƣơng tại Xí nghiệp cơ khí tàu thuyền và kinh doanh tổng hợp công ty 128 Kết luận Sinh viên : Nguyễn Thị Thúy An Lớp QT1205K 2 Trƣờng ĐHDL Hải Phòng KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TIỀN LƢƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƢƠNG 1.1 Khái quát chung về tiền lƣơng 1.1 Khái niệm và ý nghĩa. a) Khái niệm Tiền lƣơng (hay tiền công) là số tiền thù lao mà danh nghiệp trả cho ngƣời lao động theo số lƣợng và chất lƣợng lao động mà họ đóng góp cho doanh nghiệp, để tái sản xuất sức lao động, bù đắp hao phí lao động của họ trong quá trình sản xuất kinh doanh. Theo QĐ số 48/2006/QĐ-BTC ngày 14/9/2006, tiền lƣơng là biểu hiện bằng tiền của chi phí nhân công mà doanh nghiệp trả cho ngƣời lao động theo thời gian, khối lƣợng công việc mà họ đã cống hiến cho doanh nghiệp. b) Ý nghĩa của tiền lƣơng Duy trì và tái sản xuất sức lao động Theo Marx “sức lao động là toàn bộ khả năng và thể lực, trí tuệ tạo nên cho con ngƣời khả năng tạo ra của cải vật chất và tinh thần của xã hội”.
Sức lao động là sản phẩm của lịch sử, luôn đƣợc hoàn thiện và nâng cao chất lƣợng, thƣờng xuyên đƣợc khôi phục và phát triển. Bản chất của tái sản xuất sức lao động là duy trì và phát triển sức lao động, nghĩa là đảm bảo cho ngƣời lao động có đƣợc lƣợng tiền lƣơng nhất định để họ phục vụ cho hoạt động sinh hoạt nhƣ: + Duy trì và phát triển sức lao động của chính bản thân ngƣời lao động. + Sản xuất ra sức lao động mới. + Tích luỹ kinh nghiệm, nâng cao trình độ để hoàn thành kỹ năng lao động, tức là phải nâng cao chất lƣợng lao động.
+ Với ý nghĩa này, tiền lƣơng chỉ phát huy tác dụng khi đƣợc hạch toán theo đúng nguyên tắc “trao đổi ngang giá giữa hoạt động và kết quả lao động” Sinh viên : Nguyễn Thị Thúy An Lớp QT1205K 3 Trƣờng ĐHDL Hải Phòng KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Là đòn bẩy kinh tế Thực tế cho thấy rằng: Khi đƣợc trả lƣơng xứng đáng, ngƣời lao động sẽ làm việc tích cực, gắn chặt trách nhiệm của bản thân vào lợi ích của tập thể, họ không ngừng phấn đấu để hoàn thiện mình hơn. Ở một mức độ nhất định, tiền lƣơng là một bằng chứng thể hiện giá trị, địa vị và uy tín của ngƣời lao động trong gia đình, ở một doanh nghiệp và ngoài xã hội. Thể hiện sự đánh giá đúng năng lực và công lao của họ đối với sự phát triển của doanh nghiệp. Do đó tiền lƣơng sẽ trở thành công cụ khuyến khích vật chất là động lực thúc đẩy phát triển.
Muốn thể hiện tốt ý nghĩa này, tiền lƣơng phải đƣợc trả theo lao động, nghĩa là ngƣời nào “làm nhiều hƣởng nhiều, làm ít hƣởng ít”. Lấy kết quả và hiệu quả công việc làm cơ sở cho việc tính toán tiền lƣơng một cách hợp lý. Có nhƣ vậy tiền lƣơng mới thực sự phát huy đƣợc ý nghĩa làm đòn bẩy kinh tế. Là công cụ quản lý Nhà nước.
Hoạt động sản xuất kinh doanh, ngƣời chủ sử dụng lao động thƣờng đứng trƣớc hai nghịch lý đó là: + Tìm mọi biệt pháp để giảm chi phí sản xuất kinh doanh. Trong đó có tiền lƣơng phải trả cho ngƣời lao động. + Hai là phải đảm bảo chính sách cho Nhà nƣớc về quyền lợi tối thiểu của ngƣời lao động. Nhà nƣớc dựa vào chức năng trên của chế độ tiền lƣơng, kết hợp với tình hình kinh tế xã hội.
Cụ thể là xây dựng một cơ chế tiền lƣơng phù hợp và ban hành nó nhƣ một văn bản pháp luật buộc ngƣời sử dụng lao động phải tuân theo. Điều tiết lao động Trong quá trình thực hiện kế hoạch phát triển, cân đối giữa các ngành, các vùng và trên toàn quốc. Nhà nƣớc thƣờng thông qua hệ thống chế độ chính sách về tiền lƣơng nhƣ hệ thống thang lƣơng, bảng lƣơng, các chế độ phụ cấp cho từng ngành, từng khu vực để làm công cụ điều tiết lao động. Nhờ vậy tiền lƣơng đã góp Sinh viên : Nguyễn Thị Thúy An Lớp QT1205K 4 Trƣờng ĐHDL Hải Phòng KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP phần tạo ra một cơ cấu lao động hợp lý, tạo điều kiện cho sự phát triển của đất nƣớc.
Là thước đo hao phí lao động xã hội. Khi tiền lƣơng đƣợc trả cho ngƣời lao động ngang với giá trị sức lao động mà họ bỏ ra trong quá trình thực hiện công việc qua đó mà xã hội có thể tính chính xác hao phí lao động của toàn cộng đồng, thông qua toàn bộ quỹ lƣơng của toàn bộ ngƣời lao động. Điều này rất có ý nghĩa trong công tác thống kê, giúp Nhà nƣớc hoạch định các chính sách và vạch ra đƣợc chiến lƣợc lâu dài. Qua 5 ý nghĩa của tiền lƣơng cho thấy tiền lƣơng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sản xuất kinh doanh và phát triển, phát huy tính chủ động, sáng tạo của ngƣời lao động, tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp.2 Nhiệm vụ của kế toán tiền lƣơng Tổ chức ghi chép kiểm tra, phản ánh kịp thời, đầy đủ tình hình hiện có và sự biến động về số lƣợng và chất lƣợng lao động, tình hình sử dụng thời gian lao động và kết quả lao động.
Tính toán chính xác, kịp thời, đúng chính sách chế độ về các khoản tiền lƣơng, tiền thƣởng, các khoản trợ cấp phải trả cho ngƣời lao động. Thực hiện việc kiểm tra tình hình chấp hành các chính sách, chế độ về lao động tiền lƣơng, bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm ý tế (BHYT), kinh phí công đoàn (KPCĐ) và bảo hiểm thất nghiệp (BHTN). Kiểm tra tình hình sử dụng quỹ tiền luơng, quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ và BHTN. Tính toán và phân bổ chính xác, đúng đối tƣợng các khoản tiền lƣơng, khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN vào chi phí sản xuất kinh doanh.
Lập báo cáo về lao động, tiền lƣơng , BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN thuộc phạm vi trách nhiệm của kế toán. Tổ chức phân tích tình hình sử dụng lao động, quỹ tiền lƣơng, quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN. Sinh viên : Nguyễn Thị Thúy An Lớp QT1205K 5 Trƣờng ĐHDL Hải Phòng KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 1.3 Các quy định về kế toán tiền lƣơng Mức lƣơng của ngƣời lao động không đƣợc thấp hơn mức lƣơng tối thiểu do nhà nƣớc quy định. Tiền lƣơng phải trả cho ngƣời lao động đúng thời hạn và đầy đủ trực tiếp tại nơi làm việc.
Các chế độ BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ đƣợc trình lên quỹ tiền lƣơng của doanh nghiệp theo chế độ hiện hành. Các chế độ tiền thƣởng, phụ cấp nâng bậc lƣơng, các chế đô khuyến khích khác có thể thoả thuận trong hợp đồng lao động, hoặc quy định trong quy chế của doanh nghiệp. Tuỳ theo đặc điểm của công ty từng doanh nghiệp mà lợi nhuận hàng năm đƣợc tính ra thƣởng cho ngƣời lao động đã làm việc tại doanh nghiệp từ một năm trở lên, theo quy định của nhà nƣớc. Tuỳ theo từng trƣờng hợp ngƣời lao động có quyền tạm ứng thông qua sự thoả thuận giữa hai bên công ty và nhân viên.
Ngƣời lao động có quyền biết mọi lý do các khoản khấu trừ vào lƣơng của mình.4 Các hình thức trả lƣơng tại doanh nghiệp 1.1 Nguyên tắc cơ bản trong tổ chức tiền lương Tiền lƣơng là động lực chủ yếu khích lệ ngƣời lao động làm việc tích cực hơn, thúc đẩy ngƣời lao động cải tiến một cách có hệ thống các phƣơng pháp tổ chức lao động, sử dụng tốt và có hiệu quả ngày công lao động, máy móc thiết bị, tiết kiệm nguyên vật liệu.ở một mức độ nhất định, tiền lƣơng thể hiện uy tín, giá trị của ngƣời lao động cũng nhƣ tăng năng lực và công lao của họ với sự phát triển của đơn vị. Để đảm bảo đầy đủ yêu cầu của tổ chức tiền lƣơng cho ngƣời lao động, đảm bảo tái sản xuất lao động và không ngừng nâng cao đời sống tinh thần cho ngƣời lao động, làm cho năng suất lao động không ngừng tăng lên thì tổ chức tiền lƣơng phải đảm bảo những nguyên tắc sau: Sinh viên : Nguyễn Thị Thúy An Lớp QT1205K 6 Trƣờng ĐHDL Hải Phòng KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP - Một là: Nguyên tắc trả lƣơng theo số lƣợng và chất lƣợng lao động. Nguyên tắc này nhằm khắc phục chủ nghĩa bình quân trong phân phối, mặt khác tạo cho ngƣời lao động ý thức với kết quả lao động của mình. Nguyên tắc này còn đảm bảo trả lƣơng công bằng cho ngƣời lao động giúp họ phấn đấu tích cực và yên tâm công tác.
- Hai là: Nguyên tắc đảm bảo tái sản xuất sức lao động và không ngừng nâng cao mức sống. Quá trình sản xuất chính là sự kết hợp đồng thời các yếu tố nhƣ quá trình tiêu hao các yếu tố lao động, đối tƣợng lao động và tƣ liệu lao động. Trong đó lao động với tƣ cách là hoạt động chân tay và trí óc của con ngƣời sử dụng lao động tạo ra các vật phẩm có ích phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của mình. Để đảm bảo tiến hành liên tục quá trình sản xuất, trƣớc hết cần tái sản xuất sức lao động, nghĩa là sức lao động mà con ngƣời bỏ ra phải đƣợc bồi hoàn dƣới dạng thù lao lao động.
Mặt khác tiền lƣơng còn là đảm bảo kinh tế để khuyến khích hàng hoá lao động, kích thích và tạo mối quan tâm của ngƣời lao động đến kết quả công việc của họ. Vì vậy công tác tổ chức tiền lƣơng cần chú ý đến việc tăng tiền lƣơng thực tế cho ngƣời lao động. - Ba là: Đảm bảo tốc độ tăng năng suất lao động nhanh hơn tốc độ tăng tiền lƣơng bình quân. Về bản chất, tiền lƣơng là một bộ phận cấu thành nên giá thành sản phẩm và giá cả hàng hoá, trong doanh nghiệp việc trả lƣơng có tác dụng kích thích sản xuất và tiến bộ khoa học kỹ thuật.
Tiền lƣơng bình quân chỉ tăng lên trên cơ sở nâng cao năng suất sức lao động, nâng cao trình độ lành nghề, giảm bớt tổn thất về thời gian lao động.