LỜI MỞ ĐẦU Trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp sản xuất muốn tồn tại và phát triển nhất định phải có phương pháp sản xuất kinh doanh phù hợp và hiệu quả. Một quy luật tất yếu trong nền kinh tế thị trường là cạnh tranh, do vậy mà doanh nghiệp phải tìm mọi biện pháp để đứng vững và phát triển trên thương trường, đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng với chất lượng ngày càng cao và giá thành hạ. Đó là mục đích chung của các doanh nghiệp sản xuất và ngành xây dựng cơ bản nói riêng. Nắm bắt được thời thế trong bối cảnh đất nước đang chuyển mình trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa, với nhu cầu cơ sở hạ tầng, đô thị hóa ngày càng cao.
Ngành xây dựng cơ bản luôn luôn không ngừng phấn đấu để tạo ra những tài sản cố định cho nền kinh tế. Tuy nhiên, trong thời gian hoạt động, ngành xây dựng cơ bản còn thực hiện tràn lan, thiếu tập trung, công trình dở dang làm thất thoát lớn cần được khắc phục. Trong tình hình đó, việc đầu tư vốn phải được tăng cường quản lý chặt chẽ trong ngành xây dựng cơ bản là một điều hết sức cấp bách hiện nay. Để thực hiện được điều đó, vấn đề trước mặt là cần phải hạch toán đầy đủ, chính xác vật liệu trong quá trình sản xuất vật chất, bởi vì đây là yếu tố cơ bản trong quá trình sản xuất, nó chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí và giá thành sản phẩm của doanh nghiệp.
Chỉ cần một biến động nhỏ về chi phí nguyên vật liệu cũng ảnh hưởng tới giá thành sản phẩm, ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Điều đó buộc các doanh nghiệp phải quan tâm đến việc tiết kiệm nguyên vật liệu để làm sao cho một lượng chi phí nguyên vật liệu bỏ ra nhỏ nhất mà sản xuất được nhiều sản phẩm nhất, mà vẫn đảm bảo chất lượng, đó cũng là biện pháp đúng đắn nhất để tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp đồng thời tiết kiệm được hao phí lao động xã hội. Kế toán với chức năng là công cụ quản lý phải tính toán và quản lý như thế nào để đáp ứng được yêu cầu đó. Nhận thức được một cách rõ ràng vai trò của kế toán, đặc biệt là kế toán vật liệu trong quản lý chi phí của doanh nghiệp, trong thời gian thực tập tại Công ty TNHH Thương Mại Sản Xuất Tân Phong cùng với sự giúp đỡ của phòng kế toán và sự hướng dẫn tận tình của cô giáo em đã đi sâu tìm hiểu công tác kế toán nguyên vật liệu ở Công ty TNHH Thương Mại Sản Xuất Tân Phong.
Vận dụng những kiến thức đã tiếp thu ở trường kết hợp với thực tế về công tác hạch toán nguyên vật liệu ở SV: Bùi Thị Hằng - K19KT2 1 Công ty TNHH Thương Mại Sản Xuất Tân Phong em đã lựa chọn đề tài: : ”Kế toán nhập- xuất nguyên vật liệu tại Công ty TNHH Thương Mại Sản Xuất Tân Phong” Báo cáo gồm ba phần: Phần 1: Lý luận chung về kế toán nguyên, vật liệu trong doanh nghiệp vừa và nhỏ. Phần 2: Thực trạng kế toán nguyên vật liệu tại công ty TNHH Thương Mại Sản Xuất Tân Phong. Phần 3: Hoàn thiện kế toán nguyên vật liệu và một số ý kiến nhận xét NVL tại công tyTNHH Sản xuất và Thương Mại Tân Phong Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn của cô giáo Trần Thị Thu Phong, các anh chị trong phòng kế toán tại công ty đã nhiệt tình chỉ bảo và truyền đạt những ý kiến cơ bản để em được học tập và hoàn thành chuyên đề báo cáo thực tập của mình. Tuy nhiên trong quá trình học tập, nghiên cứu và tham khảo các tào liệu,chắc chắn em không tránh khỏi những thiếu sót hạn chế.
Vì vậy em rất mong nhận được sự giúp đỡ và góp ý kiến từ phía các Qúy thầy cô và các bạn. Hà Nội, ngày… tháng… năm2014 Sinh viên Bùi Thị Hằng SV: Bùi Thị Hằng - K19KT2 2 PHẦN 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN NGUYÊN LIỆU, VẬT LIỆU TRONG CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ 1. Khái niệm, đặc điểm nguyên vật liệu 1. Khái niệm về nguyên vật liệu Ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất, kinh doanh là lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động.
Nguyên vật liệu trong doanh nghiệp sản xuất là những đối tượng lao động đã được thể hiện dưới dạng vật chất hóa. Nguyên vật liệu là một dạng tài sản vật chất thuộc loại hàng tồn kho. Nó cũng là một dạng tài sản lưu động, là một đối tượng lao động giữ vai trò có thể chính hoặc phụ trong hoạt động sản xuất. Đặc điểm của nguyên vật liệu Một trong những điều kiện thiết yếu để tiến hành sản xuất là đối tượng lao động.
Nguyên vật liệu là những đối tượng lao động đã được thể hiện dưới dạng vật hóa như: bột, enzim….trong doanh nghiệp sản xuất thực phẩm, vải, chỉ …trong doanh nghiệp may mặc…. Khác với tư liệu lao động, nguyên vật liệu chỉ tham gia vào một chu kì sản xuất nhất định. Dưới tác động của lao động chúng bị tiêu hao toàn bộ hoặc thay đổi hình thái vật chất ban đầu tao ra thực thể sản phẩm mới trong doanh nghiệp sản xuất vật chất. Do khối lượng nguyên vật liệu sử dụng, định mức nguyên vật liệu tiêu dùng là cơ sở để tạo ra khối lượng sản phẩm sản xuất tương ứng.
Giá trị của nguyên vật liệu tiêu dùng được kết chuyển toàn bộ vào chi phí hoạt động trong kỳ báo cáo tùy theo mục đích sử dụng nguyên vật liệu. Giá trị nguyên vật liệu sử dụng để tạo thành chi phí nguyên vật liệu có thể được ghi giảm trên cơ sở thu hồi phế liệu, vật liệu thừa có ích và các khoản bồi thường khác gắn với việc bồi thường sử dụng nguyên vật liệu. Nhiệm vụ, ý nghĩa hạch toán nguyên vật liệu trong doanh nghiệp. Để cung cấp đầy đủ kịp thời và chính xác thông tin cho công tác quản lý nguyen vật liệutrong các doanh nghiệp, kế toán nguyên vật liệu phải thực hiện nhiệm vụ chủ yếu sau: SV: Bùi Thị Hằng - K19KT2 3 • Ghi chép, tính toán, phản ánh chính xác, trung thực, kịp thời số lượng, chất lượng và giá thành thực tế của nguyên vật liệu nhập kho.
• Tập hợp và phản ánh đầy đủ, chính xác, kịp thời số lượng và giá trị nguyên vật liệu xuất kho, kiểm tra tình hình chấp hành các định mức tiêu hao nguyên vật liệu. • Phân bổ hợp lý giá trị nguyên vật liệu sử dụng vào các đối tượng tập hợp chi phí sản xuất, kinh doanh. • Tính toán và phản ánh chính xác số lượng và giá trị nguyên vật liệu tồn kho, phát hiện kịp thời nguyên vật liệu thiếu, thừa, ứ đọng, kém phẩm chất để doanh nghiệp có biện pháp xử lí kịp thời, hạn chế mức tối đa thiệt hại có thể xẩy ra. Phân loại nguyên vật liệu 1.
Phân loại theo vai trò nguyên vật liệu Phân loại nguyên vật liệu theo vai trò và tác dụng nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất kinh doanh: • Nguyên vật liệu chính: là những nguyên vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất thì cấu thành thực thể vật chất, thực thể chính của sản phẩm.Vì vậy khái niệm nguyên vật liệu chính gắn liền với từng doanh sản xuất cụ thể. Trong các doanh nghiệp Thương mại, dịch vụ không đặt ra khái niệm vật liệu chính, vật liệu phụ. Nguyên vật liệu cũng bao gồm cả bán thành phẩm mua vào với mục đích tiếp tục quá trình sản xuất, chế tạo thành phẩm. • Vật liệu phụ: là loại vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất, không cấu thành thực thể chính của sản phẩm.
Nhưng có thể kết hợp với vật liệu chính làm thay đối màu sắc, mùi vị, hình dáng bên ngoài…tăng thêm chất lượng sản phẩm hoặc tạo điều kiện cho quá trình chế tạo sản phẩm được thực hiện bình thường hoặc phục vụ cho nhu cầu công nghệ, kĩ thuật, bảo quản đóng gói, phục vụ quá trình lao động. • Nhiên liệu: Là những thứ có tác dụng cung cấp nhiệt lượng trong quá trình sản xuất, kinh doanh.Tạo điều kiên cho quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra bình thường. Nhiên liệu có thể tồn tại dưới thể lỏng, rắn hoặc khí. SV: Bùi Thị Hằng - K19KT2 4 • Phụ tùng thay thế: Là những vật tư dùng để thay thế, sủa chữa máy móc thiết bị, phương tiên vận tải, công cụ dụng cụ sản xuất….
• Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản: Là những vật liệu và thiết bị được sử dụng cho công việc xây dựng cơ bản. Đối với thiết bị xây dựng cơ bản bao gồm cả thiết bị cần lắp, công cụ, khí cụ và vật kêt cấu dùng để lắp đặt vào công trình xây dựng cơ bản. • Vật liệu khác: là các loại vật liệu đặc trưng của từng doanh nghiệp hoặc phế liệu thu hồi. Phân loại theo nguồn nhập nguyên vật liệu Ngoài cách phân loại phổ biến trên, kế toán có thể tiến hành phân loại NVL dựa trên vai trờ và tác dụng của nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất kinh doanh: Đó là dựa vào nguồn nhập nguyên vật liệu.
Căn cứ vào nguồn hình thành mà nguyên vật liệu trong doanh nghiệp có thể được chia thành 2 nhóm chính sau: • Nguồn nguyên vật liệu nhập từ bên ngoài: Nguyên vật liệu hình thành do mua ngoài, nhận vốn góp liên doanh, nhận biếu tặng…. • Nguyên vật liệu tự chế: Là những nguyên vật liệu do doanh nghiệp tự sản xuất. Cách phân loại này có ý nghĩa cơ sở, làm căn cứ cho việc lập kế hoạch thu mua và kế hoạch sản xuất nguyên vật liệu, là cơ sở để xác định vị trí giá vốn thực tế nguyên vật liệu nhập kho. Sổ danh điểm nguyên vật liệu.
Hạch toán nguyên vật liệu theo cách phân loại nói trên đáp ứng được nhu cầu phản ánh tổng quát về mặt giá trị đối với loại nguyên vật liệu. Để đảm bảo thuận tiện tránh nhầm lẫn cho công tác quản lý và hạch toán về số lượng và giá trị đối với từng thứ nguyên vật liệu, trên cơ sở phân loại theo vai trò và công dụng của nguyên vật liệu.Các doanh nghiệp phải tiếp tục chi tiết và hình thành nên “Sổ danh điểm nguyên vật liệu”. Sổ này xác định thông nhất tên gọi, kí mã hiệu, quy cách, số hiệu, đơn vị tính, giá hạch toán của từng danh điểm nguyên vật liệu. SV: Bùi Thị Hằng - K19KT2 5 Bảng 1.
Sổ danh điểm vật liệu Kí hiệu Tên,nhãn Đơn vị Đơn giá Ghi chú Nhóm Danh điểm NVL hiệu,.NVL tính hoàn thành 1. Tính giá nguyên vật liệu Tính giá NVL là một công tác quan trọng trong việc tổ chức hạch toán NVL.