CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI 1. Các khái niệm cơ bản, phương thức bán hàng và phương thức thanh toán 1. Các khái niệm cơ bản về bán hàng và xác định kết quả kinh doanh Không có định nghĩa cụ thể nào về bán hàng. Theo quan điểm của Tổng cục Thống kê Việt Nam “Bán hàng là quá trình giao dịch giữa người bán và người mua, trong đó người bán cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ cho người mua và người mua trả tiền cho sản phẩm hoặc dịch vụ đó”.
Trong cuốn “Những đòn tâm lý trong bán hàng” của tác giả Brian Tracy, ông định nghĩa bán hàng là “Một quá trình trao đổi giữa người bán và người mua, trong đó người bán đưa cho người mua sản phẩm hoặc dịch vụ và người mua trả tiền cho sản phẩm hoặc dịch vụ đó”. Kết quả kinh doanh là thước đo đánh giá sự phát triển của doanh nghiệp trong hiện tại, đồng thời phản ánh tiềm năng tăng trưởng của doanh nghiệp trong tương lai. Theo Điều 68 Thông tư 133/2016-TT/BTC: “Kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm: Kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh, kết quả hoạt động tài chính và kết quả hoạt động khác. - Kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh là số chênh lệch giữa doanh thu thuần và trị giá vốn hàng bán (gồm cả sản phẩm, hàng hóa, bất động sản đầu tư và dịch vụ, giá thành sản xuất của sản phẩm xây lắp, chi phí liên quan đến hoạt động kinh doanh bất động sản đầu tư, như: chi phí khấu hao, chi phí sửa chữa, nâng cấp, chi phí cho thuê hoạt động, chi phí thanh lý, nhượng bán bất động sản đầu tư), chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp.
- Kết quả hoạt động tài chính là số chênh lệch giữa thu nhập của hoạt động tài chính và chi phí hoạt động tài chính. - Kết quả hoạt động khác là số chênh lệch giữa các khoản thu nhập khác và các khoản chi phí khác và chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp”. Như vậy, dưới góc độ hoạt động thương mại, bán hàng là quá trình người bán chuyển quyền sở hữu hàng hóa gắn với phần lớn lợi ích và rủi ro cho khách hàng, 6 đồng thời được khách hàng thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán. Khi đó, doanh nghiệp sẽ nhận được một khoản tiền tệ gọi là doanh thu bán hàng và xác định kết quả kinh doanh là việc so sánh giữa doanh thu mà doanh nghiệp thu về với chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra trong kỳ.
Nếu doanh thu lớn hơn chi phí thì doanh nghiệp hoạt động có lãi. Ngược lại, nếu doanh thu thu về nhỏ hơn chi phí thì doanh nghiệp đang bị lỗ. Tùy theo đặc điểm kinh doanh, yêu cầu quản lý của từng doanh nghiệp mà việc xác định kết quả kinh doanh có thể thực hiện vào cuối tháng, cuối quý hoặc cuối năm. Các phương thức bán hàng Đối với các doanh nghiệp thương mại nội địa là các doanh nghiệp thực hiện nghiệp vụ mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ trong nước thì chủ yếu sử dụng 2 phương thức kinh doanh: bán buôn và bán lẻ.
Bán buôn hàng hoá Là hình thức bán hàng theo lô hoặc bán với số lượng lớn với giá đã có chiết khấu cao hoặc giá gốc. Bán buôn thường được áp dụng với các trung gian thương mại như đại lý, tổng đại lý, nhà phân phối,. Bán buôn hàng hóa có thể theo các phương thức sau: a) Bán buôn qua kho Hàng mua về được nhập kho, sau đó được xuất từ kho của doanh nghiệp cho người mua buôn theo hai hình thức: + Bán buôn hàng hoá qua kho theo hình thức giao hàng trực tiếp: Theo phương thức này, bên mua cử đại diện đến kho của doanh nghiệp thương mại để nhận hàng. Doanh nghiệp thương mại xuất kho hàng hoá giao trực tiếp cho đại diện bên mua.
Sau khi đại diện bên mua nhận đủ hàng, thanh toán tiền hoặc chấp nhận nợ, hàng hoá được xác định là tiêu thụ. + Bán buôn hàng hoá qua kho theo hình thức chuyển hàng: căn cứ vào hợp đồng kinh tế đã ký kết hoặc theo đơn đặt hàng, doanh nghiệp thương mại xuất kho hàng hoá, vận chuyển hàng đến kho của bên mua hoặc một địa điểm nào đó bên mua quy định trong hợp đồng. Hàng hoá chuyển bán vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp. 7 Chỉ khi nào được bên mua kiểm nhận, thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán thì số hàng chuyển giao mới được coi là tiêu thụ.
b) Bán buôn vận chuyển thẳng Theo phương thức này, doanh nghiệp thương mại sau khi mua hàng, không đưa về nhập kho mà chuyển bán thẳng cho bên mua. Phương thức này có thể thực hiện theo 2 hình thức: + Bán buôn hàng hoá vận chuyển thẳng theo hình thức giao hàng trực tiếp (còn gọi là hình thức giao tay ba): doanh nghiệp thương mại sau khi mua hàng sẽ giao trực tiếp cho bên mua tại kho người bán. Sau khi đại diện bên mua ký nhận đủ hàng, thanh toán tiền hàng hoặc chấp nhận nợ, hàng hoá được xác nhận là tiêu thụ. + Bán buôn hàng hoá vận chuyển thẳng theo hình thức chuyển hàng: doanh nghiệp thương mại sau khi mua hàng sẽ dùng phương tiện vận tải của mình hoặc thuê ngoài vận chuyển hàng giao cho bên mua ở địa điểm đã được thoả thuận.
Hàng hoá chuyển bán vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp. Khi nhận được tiền của bên mua thanh toán hoặc giấy báo của bên mua đã nhận được hàng và chấp nhận thanh toán thì hàng hoá chuyển đi mới được xác định là tiêu thụ. Bán lẻ hàng hoá Là phương thức bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng hoặc các tổ chức kinh tế hoặc các đơn vị kinh tế tập thể mua về mang tính chất tiêu dùng nội bộ. Theo phương thức này, hàng hoá đã ra khỏi lĩnh vực lưu thông và đi vào lĩnh vực tiêu dùng, giá trị và giá trị sử dụng của hàng hoá đã được thực hiện.
Bán lẻ thường bán với số lượng ít, nhỏ lẻ, giá bán thường ổn định và có nhiều hình thức thực hiện đa dạng hơn bán buôn. a) Bán lẻ thu tiền tập trung: Tách rời nghiệp vụ giao hàng và thu tiền của người mua. Mỗi quầy hàng có một nhân viên thu tiền làm nhiệm vụ thu tiền của khách, viết hoá đơn hoặc tích kê cho khách để khách đến nhận hàng ở quầy hàng do nhân viên bán hàng giao. Cuối ngày, nhân viên bán hàng căn cứ vào hoá đơn và tích kê giao hàng cho khách hoặc kiểm kê hàng hoá tồn quầy để xác định số lượng hàng đã bán 8 trong ngày, trong ca và lập báo cáo bán hàng.
Nhân viên thu tiền làm giấy nộp tiền và nộp tiền bán hàng cho thủ quỹ. b) Bán lẻ thu tiền trực tiếp: Nhân viên bán hàng trực tiếp thu tiền của khách và giao hàng cho khách. Hết ca, hết ngày bán hàng, nhân viên bán hàng làm giấy nộp tiền và nộp tiền cho thủ quỹ. Đồng thời, kiểm kê hàng hoá tồn quầy để xác định số lượng hàng đã bán trong ca, trong ngày và lập báo cáo bán hàng.
c) Hình thức bán lẻ tự phục vụ (tự chọn): Theo hình thức này, khách hàng tự chọn lấy hàng hoá, mang đến bàn tính tiền và thanh toán tiền hàng. Nhân viên thu tiền kiểm hàng, tính tiền, lập hoá đơn bán hàng và thu tiền của khách hàng. Nhân viên bán hàng có trách nhiệm hướng dẫn khách hàng và bảo quản hàng hoá ở quầy do mình phụ trách. Hình thức này được áp dụng phổ biến ở các siêu thị.
d) Bán lẻ tự động: Là hình thức bán lẻ hàng hoá, các doanh nghiệp thương mại sử dụng các máy bán hàng tự động chuyên dùng cho một hoặc một vài loại hàng hoá đặt ở các nơi công cộng. Khách hàng sau khi bỏ tiền vào máy, máy sẽ tự động đẩy hàng ra cho người mua. e) Bán hàng theo phương thức gửi hàng đại lý, ký gửi: Doanh nghiệp giao hàng cho các cơ sở đại lý, ký gửi để các cơ sở này trực tiếp bán hàng, có trách nhiệm thanh toán tiền hàng cho doanh nghiệp thương mại và hưởng hoa hồng. Số hàng hóa chuyển giao cho các cơ sở đại lý vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp cho đến khi các cơ sở đại lý thanh toán hoặc thông báo về số hàng đã bán.
f) Bán hàng theo phương thức trả chậm, trả góp: Khách hàng chỉ thanh toán một phần tiền để nhận hàng, phần còn lại trả dần trong một khoảng thời gian và chịu khoản lãi theo quy định trong hợp đồng. Khoản lãi trả chậm này sẽ được đơn vị hạch toán vào doanh thu hoạt động tài chính. Khi giao hàng cho người mua, lượng hàng chuyển giao được coi là tiêu thụ. Doanh thu bán hàng được tính theo giá bán trả tiền ngay.
Các phương thức thanh toán Sau khi giao hàng cho người mua và được bên mua chấp nhận thanh toán thì bên bán có thể nhận tiền hàng bằng nhiều phương thức khác nhau tùy thuộc vào độ 9 tín nhiệm và sự thỏa thuận giữa hai bên. Hiện nay, các doanh nghiệp thương mại thường áp dụng các phương thức thanh toán: phương thức thanh toán ngay, phương thức thanh toán trả chậm và người mua trả tiền trước. Phương thức thanh toán ngay Đây là phương thức mà quyền sở hữu về tiền tệ sẽ được chuyển từ người mua qua người bán ngay sau khi quyền sở hữu hoặc quyền kiểm soát về hàng hóa được chuyển giao. Theo phương thức này, sự vận động của hàng hóa gắn liền với sự vận động của tiền tệ.
Nghĩa là khi bên mua nhận được hàng và chấp nhận thanh toán thì sẽ tiến hành thanh toán luôn tiền hàng cho bên bán. Phương thức thanh toán trả chậm (thanh toán sau) Đây là phương thức thanh toán mà quyền sở hữu về tiền tệ sẽ được chuyển giao sau một khoảng thời gian so với thời điểm chuyển quyền sở hữu hoặc quyền kiểm soát về hàng hóa, do đó hình thành khoản công nợ phải thu khách hàng. Nợ phải thu cần được hạch toán chi tiết cho từng đối tượng và ghi chép cho từng lần thanh toán. Theo hình thức này sự vận động của hàng hóa và tiền tệ có khoảng cách về không gian và thời gian.
Nói cách khác, sẽ có sự thỏa thuận giữa người bán và người mua về thời gian thanh toán tiền hàng. Ví dụ: Điều kiện thanh toán là 1/10, n/30 tức là người mua phải thanh toán trong vòng 30 ngày nhận nợ, nếu người mua trả tiền hàng trong vòng 10 ngày đầu tiên kể từ ngày chấp nhận thanh toán sẽ được hưởng Chiết khấu thanh toán 1% trên tổng số tiền phải trả.