phần mở đầu, kết luận khóa luận tốt nghiệp gồm những nội dung chính sau: - CHƢƠNG I : Tổng quan tình hình nghiên cứu - CHƢƠNG II : Những vấn đề lý luận cơ bản về kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng trong các doanh nghiệp - CHƢƠNG III : Thực trạng kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty CP Dƣợc Trung Đông. - CHƢƠNG IV : Giải pháp hoàn thiện kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty CP Dƣợc Trung Đông. 9 CHƢƠNG I: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ BÁN HÀNG 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Trong những năm gần đây hội nhập kinh tế quốc tế là xu thế chung của các nền kinh tế thế giới trong đó Việt Nam là một đất nƣớc đang phát triển thì hội nhập kinh tế thế giới vừa là một cơ hội vừa là một thách thức lớn.
Điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp trong nƣớc muốn đứng vững cần phải có chiến lƣợc kinh doanh phù hợp với điều kiện hoàn cảnh khách quan của đất nƣớc, của thế giới, và của bản thân doanh nghiệp. Bán hàng là khâu cuối cùng, một khâu quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nó mang tính chất quyết định đến sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp. Đã có nhiều đề tài nghiên cứu về kế toán doanh thu dịch vụ và xác định kết quả kinh doanh nhƣ: Tác giả: Lê Huyền Sâm (2016) với đề tài “Thực trạng kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty TNHH Dịch vụ Thƣơng mại vận tải Phúc Lộc” đã xác định: + Về đối tƣợng nghiên cứu: Kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty TNHH Dịch vụ Thƣơng mại vận tải Phúc Lộc.
+ Về phạm vi nghiên cứu: Tại Công ty TNHH Dịch vụ Thƣơng mại vận tải Phúc Lộc. + Về kết quả nghiên cứu: * Trong nghiên cứu, tác giả đã chỉ ra các mặt hạn chế trong kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng nhƣ: Trong kế toán bán hàng, Công ty chƣa sử dụng các tài khoản phản ánh giảm giá hàng bán. Khi phát sinh các khoản giảm trừ cho khách hàng, kế toán phản ánh vào tài khoản 642 (CPBH) và coi nhƣ một khoản chi phí bán hàng. Hạch toán nhƣ vậy là chƣa hợp lý, không đúng với quy định hiện hành từ đó gây khó khăn cho công tác theo dõi, phân tích và quản lý chi phí, chƣa hoàn thành nhiệm vụ của kế toán là phản ánh đúng nội dung kinh tế của các nghiệp vụ phát sinh.
Công ty áp dụng phƣơng pháp bình quân cả kỳ dự trữ để tính trị giá vốn của hàng hoá xuất bán ra trong tháng. Tuy nhiên, công ty không thực hiện phân bổ chi phí thu mua cho hàng tiêu thụ trong kỳ mà chi phí thu mua đƣợc hạch toán vào chi phí bán hàng. Do đó, giá vốn của hàng hoá không những đƣợc phản ánh thấp hơn so với thực tế mà còn làm tăng chi phí bán hàng, dẫn tới việc phản ánh kết quả bán hàng không chính xác. 10 Kế toán hạch toán chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp chung cho toàn mặt hàng mà công ty kinh doanh chứ chƣa hạch toán riêng cho từng nhóm hàng hóa.
Hiện nay công ty có một số mặt hàng tồn kho bị giảm giá do giá cả thị trƣờng biến động, do chất lƣợng sản phẩm, trong khi kế toán không sử dụng tài khoản dự phòng. Điều này đã làm giảm tính chính xác của việc xác định kết quả tiêu thụ, do đó việc lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho là việc rất cần thiết làm tăng ý nghĩa cho việc kinh doanh cũng nhƣ đảm bảo lợi ích cho doanh nghiệp. * Nghiên cứu đã đƣa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại đơn vị nhƣ sau: Công ty nên tổ chức lại bộ máy kế toán bằng cách tuyển thêm nhân viên trong phòng kế toán nhƣ: kế toán theo dõi công nợ, kế toán tiền lƣơng … để bộ phận kế toán tổ chức đƣợc chặt chẽ và hoạt động có hiệu quả hơn. Việc hạch toán chi tiết chi phí bán hàng thông qua việc mở các sổ theo dõi chi tiết trong quá trình bán hàng là rất quan trọng.
Số liệu tổng hợp trên sổ kế toán chi tiết không chỉ đƣợc dùng để kiểm tra đối chiếu số liệu cuối tháng mà còn dùng để ghi sổ kế toán tổng hợp và lập báo cáo tài chính. Công ty kinh doanh trong lĩnh vực thƣơng mại nên số lƣợng hàng hóa bán ra nhiều nên cần mở sổ theo dõi chi tiết doanh thu, chi phí cho từng mặt hàng kinh doanh trong kỳ để thuận tiện cho việc xác định kết quả cho từng loại sản phẩm. Từ đó ban quản trị sẽ xác định đƣợc mặt hàng nào có lợi nhuận cao mặt hàng nào có lợi nhuận thấp để phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh mang lại lợi nhuận cao nhất cho doanh nghiệp. Do phƣơng thức bán hàng tại công ty có nhiều khách hàng chịu tiền hàng, bên cạnh đó việc thu tiền hàng gặp nhiều khó khăn việc này ảnh hƣởng không nhỏ đến tình hình tài chính của doanh nghiệp.Vì vậy công ty phải tiến hành lập dự phòng khoản nợ phải thu khó đòi để đảm bảo phù hợp giữa doanh thu và chi phí theo mẫu quy định của bộ tài chính Trong trƣờng hợp công ty có điều kiện về tình hình tài chính nên tiến hành mua phần mềm kế toán phù hợp với đặc điểm kinh doanh của mình.
Điều này sẽ giúp cho công việc của kế toán công ty đƣợc giảm nhẹ và công việc kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng đƣợc thƣc hiện nhanh chóng, gọn nhẹ và chính xác Do việc kinh doanh của công ty tiến hành mua hàng hóa nhập kho sau đó mới tiến hành đem đi tiêu thụ. Điều này không tránh khỏi việc giảm giá về hàng trong kho.Vì vậy công ty nên tiến hành lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho để bù 11 đắp các khoản thiệt hại thực tế xảy ra do hàng hóa tồn kho bị giảm giá. Công ty nên áp dụng trích lập và ghi sổ theo quy định của bộ tài chính. Tăng cƣờng công tác lãnh đạo, quản lý từ phòng ban đến các đơn vị và bộ phận bán hàng để giải quyết kịp thời những khó khăn vƣớng mắc tạo điều kiện cho việc triển khai công việc nhanh chóng và thuận lợi.
Tăng các mối quan hệ, tiếp thị nhằm tìm kiếm các thị trƣờng tiêu thụ mới, bạn hàng mới tạo công ăn việc làm cho ngƣời lao động, sản phẩm tiêu thụ, doanh thu và lợi nhuận. * Lại Thị Hòa (2016) với đề tài: “Một số giải pháp góp phần hoàn thiện kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại công ty Cổ phần lƣơng thực Thanh Hóa” đã xác định: - Về đối tƣợng nghiên cứu: Thực trạng kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại công ty Cổ phần lƣơng thực Thanh Hóa - Về phạm vi nghiên cứu: Tại Công ty CP lƣơng thực Thanh Hóa - Về kết quả nghiên cứu: * Trong nghiên cứu, tác giả đã chỉ ra các mặt hạn chế trong kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng nhƣ: Thứ nhất: Về việc thu hồi các khoản công nợ và chính sách chiết khấu: Hiện nay các khách hàng của công ty chủ yếu thanh toán theo phƣơng thức trả sau (mua chịu), thanh toán sau từ 10-15 ngày kể từ ngày mua hàng, tuy nhiên trên thực tế khách hàng có khi ngoài khoảng thời gian đó vẫn chƣa thanh toán. Điều này làm ảnh hƣởng không nhỏ tới vòng quay vốn và hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty. Mặt khác đã thực hiện chính sách chiết khấu thƣơng mại cho những khách hàng mua hàng trong từng thời điểm ngày lễ, ngày tết, tuy nhiện lại chƣa có chính sách chiết khấu thanh toán cho những khách hàng thanh toán sớm khi mua hàng….từ đó gây ra khó khăn trong việc kích thích hàng thanh toán sớm.
Điều này làm ảnh hƣởng không nhỏ tới vốn và hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty. - Về mặt nội dung chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp: Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp hiện nay công ty mới chỉ xác định chung 12 cho toàn bộ hoạt động kinh doanh của công ty chứ chƣa đƣợc phân bổ cho từng hoạt động, do đó chƣa tạo điều kiện để xác định thực lãi – thực lỗ của từng mặt hàng - Công ty là một đơn vị kinh doanh thƣơng mại, để tiến hành kinh doanh thì công ty phải tiến hành mua hàng hóa nhập kho rồi sau đó mới đem đi tiêu thụ. Điều này không tránh khỏi sự giảm giá thƣờng xuyên của hàng trong kho. Tuy nhiên kế toán công ty lại không trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho.
- Trong hệ thống sổ kế toán sử dụng đã bao gồm khá đầy đủ các loại sổ cần thiết cho việc cung cấp thông tin và quản trị nội bộ. Các sổ kế toán tổng hợp à sổ kế toán chi tiết về bán hàng tƣơng đối hoàn chỉnh so với yêu cầu và đặc điểm kinh doanh của công ty. Tuy nhiên công ty chƣa lập sổ chi tiết giá vốn hàng bán và Bảng tổng hợp chi tiết bán hàng. Thông qua sổ này ta có thể biết đƣợc lãi (lỗ) của từng mặt hàng để có biện pháp và sự can thiệp kịp thời.
* Nghiên cứu đã đƣa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại đơn vị nhƣ sau: Đối với các khoản công nợ và chính sách chiết khấu: Việc thu hồi công nợ đối với các loại hình doanh nghiệp nói chung và loại hình doanh nghiệp thƣơng mại nói riêng là công việc hết sức cần thiết. Bởi vì, trong doanh nghiệp thƣơng mại, số vốn lƣu động là hàng hóa chiếm một tỷ trong lớn trong tổng vốn kinh doanh (thƣờng là 60 – 80%) nếu doanh nghiệp có số công nợ phải thu quá lớn sẽ dẫn đến thiếu vốn kinh doanh, công ty bị chiếm dụng vốn.