CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HOẠCH ĐỊNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Doanh nghiệp là một chủ thể kinh tế tiến hành các hoạt động kinh tế theo một kế hoạch nhất định nhằm mục đích kiếm lợi nhuận. Căn cứ vào hình thức sở hữu, mỗi quốc gia thường có những loại hình doanh nghiệp khác nhau. Tuy nhiên về cơ bản, các loại hình doanh nghiệp bao gồm: doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp doanh, công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn.1 CÁC LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM Ở nước ta kể từ khi chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường các loại hình doanh nghiệp bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn nhiều thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty cổ phần, công ty hợp doanh, và doanh nghiệp tư nhân.
Ngoài ra, còn có loại hình doanh nghiệp Nhà nước hoạt động theo luật doanh nghiệp Nhà nước chứ không theo luật doanh nghiệp do Quốc hội thông qua ngày 12/06/1999. Nhưng, đến ngày 01/07/2010 luật doanh nghiệp Nhà nước hết hiệu lực, loại hình doanh nghiệp nhà nước không còn tồn tại và các doanh nghiệp nhà nước bắt buộc phải chuyển đổi thành loại hình doanh nghiệp khác hoạt động theo luật Doanh nghiệp chung. Doanh nghiệp tư nhân Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Đây là hình thức tổ chức kinh doanh lâu đời và đơn giản nhất.
Đặc trưng nổi bật của doanh nghiệp tư nhân là người chủ của nó phải chịu trách nhiệm toàn diện đối với các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cả về mặt tài chính cũng như các mặt khác và chịu tránh nhiệm vô hạn đối với các nghĩa vụ tài chính của nó. Điều này có nghĩa là người chủ doanh nghiệp không chỉ phải chịu 4 trách nhiệm đối với doanh nghiệp về mặt tài chính không chỉ trên phần vốn đầu tư ban đầu mà khi cần còn phải đem tài sản cá nhân để trang trải cho các khoản nợ của doanh nghiệp. Công ty hợp doanh Công ty hợp doanh là doanh nghiệp trong đó phải có ít nhất hai thành viên hợp doanh, ngoài các thành viên hợp doanh còn có thể có các thành viên góp vốn, thành viên hợp doanh phải là cá nhân có trình độ chuyên môn và uy tín nghề nghiệp và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty, thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. Các thành viên góp vốn đơn thuần là người tài trợ vốn cho doanh nghiệp mà không có quyền tham gia quản lý doanh nghiệp và đổi lại họ chỉ được chia lợi nhuận (thua lỗ) trên phần vốn đầu tư vào công ty.
Công ty TNHH Công ty TNHH nhiều thành viên là doanh nghiệp trong đó thành viên có thể là tổ chức, cá nhân và số lượng thành viên không vượt quá năm mươi, thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp Công ty TNHH một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức làm chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn điều lệ của doanh nghiệp iv. Công ty cổ phần Khái niệm công ty cổ phần được xem đồng nghĩa với công ty đại chúng bởi cấu trúc, mục tiêu và tính chất của nó. Quy định trong một số bộ luật, trong đó có Luật Việt Nam ghi rõ công ty cổ phần cần có tối thiểu 3 cổ đông, bất kể đó là pháp nhân hay thể nhân. Tuy nhiên, các quy định đối với một công ty niêm yết thường yêu cầu công ty phải có số cổ đông lớn hơn nhiều.
Các quy định cụ thể của cả 6 sàn chứng khoán Hoa Kỳ đều cho thấy điều này, từ các sàn sơ khai như Pink 5 Sheet, OTCBB, NASDAQ, NYSE; trong đó OTCBB yêu cầu công ty ít nhất có 40 cổ đông, còn NYSE lại yêu cầu công ty phải có ít nhất 2. Cơ quan tối cao của các công ty cổ phần là Đại hội đồng Cổ đông. Các cổ đông sẽ tiến hành bầu ra Hội đồng Quản trị với Chủ tịch Hội đồng Quản trị, các Phó Chủ tịch và thành viên (kiêm nhiệm và không kiêm nhiệm). Sau đó, Hội đồng quản trị sẽ tiến hành thuê, bổ nhiệm Giám đốc (Tổng giám đốc) và/ hoặc Giám đốc điều hành.
Hội đồng này cũng có thể tiến hành thuê, bổ nhiệm các Phó Giám đốc (Phó Tổng Giám đốc) hoặc ủy quyền cho Ban Giám đốc (công ty) làm việc này. Quan hệ giữa Hội đồng Quản trị và Ban giám đốc là quan hệ quản trị công ty. Quan hệ giữa Ban giám đốc và cấp dưới, người lao động nói chung là quan hệquản lý. Xung quanh vấn đề quan hệ giữa các chủ sở hữu là cổ đông của công ty và những người quản lý thông thường cần được tách bạch và kể cả các đại cổ đông cũng không nhất nhất là được hay có thể tham gia quản lý công ty.
Để đảm bảo khách quan, nhiều công ty đã quy định chặt chẽ về điều này Tại Việt Nam, công ty cổ phần được định nghĩa là doanh nghiệp, trong đó: + Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; + Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa; + Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; + Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 81 và khoản 5 Điều 84 của Luật này. + Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. + Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn. Doanh nghiệp nhà nước 6 Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do Nhà nước giao.
Doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động, kinh doanh trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý. Doanh nghiệp nhà nước có tên gọi, có con dấu riêng và có trụ sở chính trên lãnh thổ Việt Nam.2 TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP Tài chính doanh nghiệp được hiểu là những quan hệ giá trị giữa doanh nghiệp với các chủ thể trong nên kinh tế. Các quan hệ tài chính doanh nghiệp chủ yếu bao gồm: - Quan hệ giữa doanh nghiệp với nhà nước: đây là mối quan hệ phát sinh khi nhà nước đầu tư vốn vào doanh nghiệp hoặc khi doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuế đối với nhà nước. - Quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính: là mối quan hệ được thể hiện thông qua hoạt động tìm kiếm các nguồn vốn đầu tư, nguồn vốn vay của doanh nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu vốn kinh doanh của doanh nghiệp, hoặc khi doanh nghiệp trả lãi vay, lãi cổ phần cho các đối tác góp vốn, đầu tư chứng khoán, gửi tiết kiếm… - Quan hệ giữa doanh nghiệp với các thị trường khác: ngoài mối quan hệ với thị trường tài chính, doanh nghiệp còn có mối quan hệ chặt chẽ với thị trường hàng hóa, dịch vụ, thị trường lao động.
Tại các thị trường đó, một mặt doanh nghiệp mua sắm máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, sức lao động phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của mình; mặt khác, từ các tín hiệu thị trường để xác định nhu cầu về chủng loại, số lượng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ trên thị trường để có kế hoạch sản xuất, cung ứng hiệu quả. 7 - Quan hệ nội bộ trong doanh nghiệp: quan hệ này được thể hiện trong việc thanh toán tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất lương cho cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp, quan hệ phân phối lợi nhuận… Từ đó, ta thấy rằng tài chính doanh nghiệp là hệ thống các luồng chuyển dịch giá trị phản ánh sự vận động và chuyển hóa các nguồn tài chính trong quá trình phân phối để tạo lập hoặc sử dụng các quý tiền tệ, nhằm đạt tới các mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC HOẠCH ĐỊNH TÀI CHÍNH 1.1 KHÁI NIỆM HOẠCH ĐỊNH TÀI CHÍNH i. Khái niệm hoạch định: Hoạch định là một tiến trình trong đó nhà quản trị xác định và lựa chọn mục tiêu của tổ chức và vạch ra các hành động cần thiết nhằm đạt được mục tiêu đó. Hoạch định có thể được định nghĩa trên phương diện chính thức (lập ra văn bản) hoặc phi chính thức (không lập văn bản).
Khái niệm dự báo: Khoa học dự báo với tư cách là một ngành khoa học độc lập có hệ thống lí luận, phương pháp luận và phương pháp hệ riêng nhằm nâng cao tính hiệu quả của dự báo. Khi các nhà quản trị lên kế hoạch hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai, bước đầu tiên trong hoạch định là dự báo hay ước lượng nhu cầu tương lai cho sản phẩm/ dịch vụ và các nguồn lực cần thiết để sản xuất sản phẩm/ dịch vụ đó. Do đó, dự báo là một khoa học và nghệ thuật tiên đoán những sự việc xảy ra trong tương lai dựa trên cơ sở phân tích khoa học về các dữ liệu đã thu thập được. Khi tiến hành dự báo, người ta căn cứ vào việc thu thập xử lý số liệu trong quá khứ và hiện tại để xác định xu hướng vận động của các hiện tượng trong tương lai nhờ vào một số mô hình toán học.
Dự báo có thể là một dự đoán chủ quan hoặc trực giác về tương lai. Nhưng để cho dự báo được chính xác hơn, người ta cố gắng loại trừ những tính chủ quan của người thực hiện dự báo. Khái niệm hoạch định tài chính Hoạch định tài chính là quá trình dự báo một cách chủ động vị thế tài chính tối ưu trong tương lai của doanh nghiệp.