Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Tổng Công ty Điện lực Miền Trung

Nghiên cứu hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Tổng công ty Điện lực miền Trung, luận văn thạc sĩ cung cấp giải pháp hiệu quả.

Chuyên ngành

Kế Toán

Người đăng

Ẩn danh

2012

113
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

PHẦN MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ

1.1. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA KIỂM SOÁT NỘI BỘ

1.1.1. GIAI ĐOẠN SƠ KHAI

1.1.2. GIAI ĐOẠN HÌNH THÀNH

1.1.3. GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN

1.1.4. GIAI ĐOẠN HIỆN ĐẠI (THỜI KỲ HẬU COSO – TỪ 1992 ĐẾN NAY)

1.2. ĐỊNH NGHĨA VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ

1.3. CÁC BỘ PHẬN CẤU THÀNH HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ THEO COSO 1992

1.3.1. MÔI TRƯỜNG KIỂM SOÁT

1.3.1.1. TÍNH TRUNG THỰC VÀ CÁC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC
1.3.1.2. CAM KẾT VỀ NĂNG LỰC
1.3.1.3. HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ VÀ ỦY BAN KIỂM TOÁN
1.3.1.4. TRIẾT LÝ QUẢN LÝ VÀ PHONG CÁCH ĐIỀU HÀNH CỦA NHÀ QUẢN LÝ
1.3.1.5. CƠ CẤU TỔ CHỨC
1.3.1.6. PHÂN ĐỊNH QUYỀN HẠN VÀ TRÁCH NHIỆM

Trích đoạn nội dung tài liệu

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH VÕ THỊ MINH THƯ HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI TỔNG CÔNG TY ĐIỆN LỰC MIỀN TRUNG LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHUYÊN NGÀNH : KẾ TOÁN MÃ SỐ : 60340301 Người hướng dẫn khoa học: PGS – TS. TRẦN THỊ GIANG TÂN TP.Hồ Chí Minh – Năm 2012 DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT  1. COSO : Committee of Sponsoring Organization 2. KSNB : Kiểm soát nội bộ 3. KH : Khách hàng 4. KSNB : Kiểm soát nội bộ 5. BCTC : Báo cáo tài chính 6. QTRR : Quản trị rủi ro 7. DN : Doanh nghiệp PHẦN MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết của đề tài: Trong giai đoạn hiện nay, tình hình kinh tế thế giới nói chung và VN nói riêng đang gặp nhiều khó khăn. Khủng hoảng kinh tế Mỹ và thế giới bắt đầu từ năm 2007 và đang tiếp tục diễn biến ngày một phức tạp và lan rộng. Một trong những tác động rõ nhất đó là tình trạng sụt giảm của thương mại toàn cầu thể hiện ở sự sụt giảm nhập khẩu hàng loạt hàng hoá tiêu dùng và các nguyên vật liệu từ thị trường bên ngoài. Hội nhập kinh tế quốc tế cũng đặt ra nhiều thách thức với các công ty Việt Nam, các công ty có sức cạnh tranh kém, quy mô nhỏ có nguy cơ phá sản rất cao. Theo tổng cục thống kê vào năm 2012, trong tổng số 448.505 công ty nhà nước, nhưng chỉ có 3.807 công ty (chiếm 84,5%) thực tế đang hoạt động sản xuất kinh doanh (bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên, công ty cổ phần có vốn nhà nước chiếm 50% trở lên kể cả những công ty cổ phần thành viên có vốn nhà nước chiếm 50% trở lên); 35 công ty (chiếm 0,82%) tạm ngừng sản xuất kinh doanh; 637 công ty (chiếm 14,1%) chờ giải thể. Một trong những nguyên nhân dẫn đến thất bại là không xây dựng hệ thống KSNB hữu hiệu và hiệu quả. Tổng Công ty Điện lực Miền Trung với thế mạnh là đơn vị phân phối điện cho toàn khu vực miền Trung, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ điện ngày càng cao. Theo chủ trương của Nhà nước, đây là mô hình hoạt động tự chủ và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của mình đảm bảo kinh doanh có lãi, bảo toàn vốn Nhà Nước. Tổng Công ty đã lớn mạnh không ngừng cả về quy mô, tài sản và cơ cấu tổ chức hoạt động. Nên có thể nói, Tổng công ty điện lực Miền Trung đang là chủ đề khá nóng đối với các luận văn và luận ánmuốn tìm tòi cái mới và cái hay cho một đề tài mang dáng dấp một sản phẩm vô cùng đặc trưng đó là “ Điện” . Tuy nhiên những nghiên cứu trước đây mới chỉ đề cập đến tình hình kinh doanh, tình hình kiểm toán chỉ là những cái nhìn bao quát rộng lớn chứ chưa đi sâu khai thác cái hay và cái khó bên trong bộ máy đó. Bởi trước áp lực quản lý của công ty lớn như vậy,việc kiểm soát hệ thống đó thật không hề đơn giản, thấy được vấn đề nghiên cứu có ứng dụng thực tiễn cao, tác giả quyết định chọn đề tài: “ Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Tổng Công ty Điện lực Miền Trung” để thực hiện luận văn tốt nghiệp của mình vừa là một tài liệu tham khảo cho công ty trong việc hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ của công ty sở tại.Mục tiêu nghiên cứu: Tổng kết các lý luận về hệ thống kiểm soát nội bộ. Khảo sát thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ tại công ty, tìm ra những hạn chế thiếu sót của nó và nguyên nhân gây ra những hạn chế đó. Đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống KSNB tại tổng công ty điện lực miền Trung.Phương pháp nghiên cứu. Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng thông qua thống kê mô tả để rút ra thực trạng về KSNB. Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp khác như: phỏng vấn, phương pháp so sánh, đối chiếu giữa lý luận với thực tiễn tại Tổng Công ty Điện Lực Miền Trung. Từ đó, đưa ra các giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ. Thông tin nghiên cứu: a.Thông tin thứ cấp: thông tin từ báo chí, tạp chí chuyên ngành kế toán – kiểm toán, kinh tế học; Intenet, thông tin nội bộ của Tập đoàn và Tổng Công ty, các báo cáo, các đề tài khoa học, sách giáo khoa, bài giảng và từ các nguồn thông tin khác có liên quan. Thông tin sơ cấp: tự thu thập được qua việc thực hiện bảng câu hỏi khảo sát, trao đổi thông tin với đồng nghiệp , phỏng vấn nhà quản lý. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Đề tài chỉ thực hiện nghiên cứu tại Tổng Công ty Điện lực Miền Trung và công ty Điện lực có trụ sở chính tại Thành Phố Đà Nẵng. Đối tượng nghiên cứu của để tài là hệ thống kiểm soát nội bộ. Bố cục của luận văn: Phần mở đầu. Chương 1: Tổng quan về kiểm soát nội bộ. Chương 2: Thực trang hệ thống kiểm soát nội bộ tại Tổng công ty Điện Lực Miền Trung. Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Tổng công ty Điện Lực Miền Trung. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ 1.1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA KIỂM SOÁT NỘI BỘ Kiểm soát luôn là một khâu quan trọng mọi quy trình quản trị, các nhà quản lý thường chú trọng đến việc hình thành và duy trì các hoạt động kiểm soát để đạt được các mục tiêu của tổ chức. Để thực hiện chức năng kiểm soát, nhà quản lý sử dụng công cụ chủ yếu là kiểm soát nội bộ. Khái niệm kiểm soát nội bộ lúc đầu được sử dụng như là một phương pháp giúp cho kiểm toán viên độc lập xác định phương pháp hiệu quả nhất trong việc kiểm toán, đến chỗ được coi là một bộ phận chủ yếu của hệ thống quản lý hữu hiệu. Lịch sử phát triển KSNB có thể tóm tắt qua các giai đoạn chính như sau: 1.1 GIAI ĐOẠN SƠ KHAI Hình thức ban đầu của KSNB là kiểm soát tiền và bắt đầu từ cuộc cách mạng công nghiệp. Do yêu cầu phát triển, các công ty cần có vốn và từ đó đưa đến nhu cầu tăng cường quản lý vốn và kiểm tra thông tin về sử dụng vốn. Thuật ngữ kiểm soát nội bộ bắt đầu xuất hiện từ giai đoạn này. Năm 1929, Công bố của Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (Federal Reserve Bulletin) - tiền thân của chuẩn mực kiểm toán Hoa Kỳ - lần đầu tiên đưa ra khái niệm về kiểm soát nội bộ và chính thức công nhận vai trò của hệ thống kiểm soát nội bộ trong công ty. Khái niệm kiểm soát nội bộ lúc bấy giờ được sử dụng trong các tài liệu kiểm toán và được hiểu đơn giản : - Bảo vệ tiền không bị các nhân viên gian lận. - Bảo vệ tài sản không bị thất thoát. - Bảo vệ số liệu kế toán chính xác. - Khuyến khích tuân thủ chính xác và hiệu quả hoạt động. Đây là một cơ sở để phục vụ cho việc lấy mẫu thử nghiệm của kiểm toán viên. Từ năm 1936, trong một công bố của Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA) đã định nghĩa KSNB là “ Các biện pháp và cách thức được chấp nhận và được thực hiện để bảo vệ tiền và tài sản, cũng như kiểm tra việc ghi chép chính xác số liệu “. Sau công bố này thì việc nghiên cứu và đánh giá về hệ thống KSNB ngày càng được chú trọng trong cuộc kiểm toán.2 GIAI ĐOẠN HÌNH THÀNH Từ năm 1949, Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA) đã định nghĩa KSNB là cơ cấu tổ chức và các biện pháp, cách thức liên quan được chấp nhận và thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tài sản, kiểm tra tính chính xác và đáng tin cậy của dữ liệu kế toán, thúc đẩy hoạt động đạt hiệu quả, khuyến khích sự tuân thủ các chính sách của người quản lý. Như vậy, khái niệm kiểm soát nội bộ đã không ngừng mở rộng ra khỏi những thủ tục bảo vệ tài sản và ghi chép sổ sách kế toán. Tuy nhiên, trước khi có báo cáo COSO ra đời, KSNB vẫn mới chỉ là phương tiện phục vụ cho kiểm toán viên trong kiểm toán báo cáo tài chính.3 GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN Vào những thập niên 1970-1980, nền kinh tế Hoa Kỳ phát triển mạnh mẽ kéo theo các vụ gian lận ngày càng tăng, quy mô ngày càng lớn, gây ra tổn thất đáng kể cho nền kinh tế. Năm 1977, sau vụ bê bối Watergate, quốc hội Hoa Kỳ đă thông qua Luật chống hành vi hối lộ ở nước ngoài. Điều luật này nhấn mạnh kiểm soát nội bộ nhằm ngăn ngừa những khoản thanh toán bất hợp pháp và dẫn đến việc yêu cầu ghi chép đầy đủ trong mọi hoạt động. Lần đầu tiên, yêu cầu về báo cáo hoạt động kiểm soát nội bộ trong các tổ chức được đề cập đến trong một văn bản pháp luật, trong đó quy định bắt buộc phải có báo cáo về hệ thống kiểm soát nội bộ đối với công tác kế toán ở công ty[1](1979); Yêu cầu đã làm dấy lên sự quan tâm của công chúng đến vấn đề kiểm soát nội bộ do trên thực tế có nhiều định nghĩa, quan điểm khác nhau về kiểm soát nội bộ (KSNB) cũng như cách thức đánh giá thế nào là một hệ thống kiểm soát nội bộ (HTKSNB) hữu hiệu giữa các cơ quan quản lý nhà nước, các hội nghề nghiệp, giới doanh nhân và học giả. Năm 1985, sự sụp đổ của các công ty cổ phần có niêm yết làm cho các nhà làm luật Hoa Kỳ càng quan tâm đến việc kiểm soát nội bộ của các công ty. Nhiều quy định hướng dẫn về kiểm soát nội bộ của các cơ quan chức năng Hoa Kỳ được ban hành trong giai đoạn này như: Ủy Ban chuẩn mực kiểm toán Hoa Kỳ năm 1998, Ủy Ban Chứng Khoán Hoa Kỳ 1998, tổ chức nghiên cứu kiểm toán nội bộ năm 1991. Trước tình hình này, Ủy ban COSO (The Committee of Sponsoring Organizations of the Treadway Commission) đã được thành lập. Đây là một Ủy ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa kỳ về chống gian lận khi lập báo cáo tài chính (The National Commission on Fraudulent Financial Reporting hay còn gọi là Treadway Commission).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ