LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam là quốc gia đang trong giai đoạn phát triển, với xuất phát điểm là một nền kinh tế nông nghiệp, trình độ học vấn, trình độ khoa học công nghệ và đời sống nhân dân ở mức thấp, nhiều vùng còn rất lạc hậu. Vì vậy, vấn đề cải cách, đổi mới hệ thống giáo dục và đào tạo, trong đó có giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp cần phải được quan tâm và phát triển một cách đồng bộ, mở rộng, đa dạng hoá nhằm nâng cao trình độ dân trí, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu hội nhập khu vực và quốc tế. Trong những năm qua, Đảng và nhà nước đã rất quan tâm phát triển hệ thống giáo dục đào tạo bậc Cao đẳng, đề ra các phương hướng, chủ trương, đường lối, cải cách và đổi mới phương thức quản lý, giao cho các địa phương, bộ, ngành của trung ương đứng ra thành lập và trực tiếp điều hành, quản lý trên cơ sở Luật Giáo dục, Luật Giáo dục nghề nghiệp, Nghị định của Chính phủ và các quy định khác của pháp luật.
Hệ thống các trường Cao đẳng trên địa bàn tỉnh Hải Dương là những đơn vị sự nghiệp công lập, hoạt động theo cơ chế tự chủ của Nghị định số 16/2015/NĐ-CP, đặc biệt là tự chủ về tài chính, các Trường thực hiện việc cung cấp dịch vụ đào tạo, dạy nghề, nghiên cứu khoa học, cung cấp nguồn nhân lực có tay nghề và chất lượng cao cho xã hội. Trong cơ chế đó, một số Trường đã tổ chức quản lý tốt các hoạt động dịch vụ, thực hiện tốt cân đối thu - chi, khẳng định được thương hiệu và phát triển một cách bền vững, quy mô của Trường ngày càng được mở rộng. Bên cạnh đó, một số Trường gặp không ít khó khăn, quy mô ngày càng bị thu hẹp, hoạt động cầm chừng, không đảm bảo cân đối thu - chi… có nguy cơ phải đóng cửa. Đứng trước nhiều khó khăn, thách thức về cơ chế tự chủ tài chính, trong bối cảnh cạnh tranh của nền kinh tế thị trường, đòi hỏi hệ thống trường Cao đẳng nói chung, các trường Cao đẳng trên điạ bàn tỉnh Hải Dương nói riêng phải không ngừng kiện toàn, đổi mới, tăng cường và hoàn thiện công tác quản lý, hoàn thiện công tác tổ chức kế toán nhằm nâng cao chất lượng 1 luan an và hiệu quả hoạt động của từng Trường, từ đó mở rộng quy mô hoạt động, mở rộng quan hệ hợp tác trong và ngoài nước về lĩnh vực đào tạo nghề để tồn tại và phát triển.
Tổ chức công tác kế toán của các trường Cao đẳng trên địa bàn tỉnh Hải Dương trong thời gian qua thực hiện theo phương thức và cơ chế cũ do đó bị bó buộc bởi hệ thống khuôn khổ pháp lý với nhiều bất cập trong việc tổ chức bộ máy kế toán, vận dụng hệ thống chứng từ kế toán, vận dụng hệ thống tài khoản kế toán, hạch toán các hoạt động kinh tế, tổ chức hệ thống sổ và báo cáo kế toán, kiểm tra công tác kế toán, lưu trữ tài liệu thông tin kế toán…. Tổ chức công tác kế toán toán trong điều kiện Cách mạng thông tin hiện nay và hướng tới mô hình tự chủ, đặc biệt là tự chủ về tài chính là một yêu cầu cấp thiết trên cả phương diện lý luận và thực tiễn, vì vậy “Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại các trường Cao đẳng trên địa bàn tỉnh Hải Dương” được tác giả lựa chọn làm đề tài nghiên cứu cho luận án Tiến sỹ kinh tế. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án và các lý thuyết nền vận dụng trong luận án Các vấn đề liên quan đến tổ chức công tác kế toán trong các đơn vị SNCL nói chung tại các trường cao đẳng trên địa bàn Hải Dương nói riêng luôn được các nhà khoa học, các nhà quản lý chuyên môn nghiên cứu bởi kế toán trong mọi tổ chức luôn là một công cụ quan trọng nhằm cung cấp thông tin về tình hình tài chính cho các đối tượng sử dụng để ra các quyết định quản lý và điều hành. Chỉ khi nào các đơn vị tổ chức hạch toán khoa học và hợp lý thì công tác kế toán mới có thể cung cấp được thông tin trung thực, chính xác kịp thời cho các đối tượng sử dụng.
Qua nghiên cứu tác giả Luận án đã tổng hợp và hệ thống các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài theo 3 hướng nghiên cứu chính: (1) Các nghiên cứu về khung pháp lý và vận dụng CMKT công quốc tế. (2) Các nghiên cứu đã được công bố về tổ chức công tác kế toán ở các đơn vị HCSN; (3) Các nghiên cứu đã được công bố về tổ chức công tác kế toán ở các cơ sở giáo dục công lập. 2 luan an Các nghiên cứu về khung pháp lý và vận dụng CMKT công quốc tế trong các đơn vị sự nghiệp công Chuẩn mực kế toán công quốc tế (IPSAS) tạo nên cơ sở nền tảng cho việc đánh giá tình hình tài chính được thừa nhận rộng rãi trên phạm vi quốc tế (Brusca và cộng sự, 2013) [28]. Tiếp đó, sự ủng hộ từ Chính phủ và sự đồng thuận từ các cấp chính quyền, việc đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin tiên tiến, trình độ chuyên môn cao cộng thêm nhận thức về sự đổi mới của lực lượng cán bộ quản lý và những người làm kế toán cũng tạo nên thuận lợi cho việc vận dụng IPSAS… (Benito và cộng sự, 2007) [27].
Ngoài ra, hệ thống quản lý tài chính hiện hành tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận dụng IPSAS, theo đó một khuôn khổ pháp lý phải được thiết lập, cụ thể cần thiết quy định IPSAS là cơ sở của việc thực hiện các Báo cáo tài chính của Chính phủ. IPSAS phải được chấp nhận bởi tất cả các bên liên quan bao gồm cả Quốc hội, Kho bạc, cơ quan Chính phủ, các đối tác phát triển IPSAS (Hamisi, 2012) [35]. Tác giả Hà Thị Ngọc Hà và Trần Khánh Lâm (2008) “Chế độ kế toán hành chính sự nghiệp và chuẩn mực kế toán công quốc tế, khoảng cách và những việc cần làm”, Tạp chí kế toán, số 13 năm 2008 trang 21-23 [12] và tác giả Đặng Thái Hùng (2011), “khả năng vận dụng chuẩn mực kế toán công quốc tế để xây dựng chuẩn mực kế toán công Việt Nam, phương án tiếp cận đưa chuẩn mực kế toán công quốc tế vào Việt Nam phù hợp với điều kiện thực tế”, Hội thảo khoa học của Bộ Tài Chính năm 2011, NXB Tài chính, Hà Nội trang 47-50 [8], trong hướng nghiên cứu này các tác giả đã phân tích và đánh giá được thực trạng Chế độ kế toán HCSN của Việt nam trên cả mặt ưu điểm và những điểm còn hạn chế. Các tác giả đã có những phân tích và đánh giá các nguyên nhân của các mặt còn hạn chế, trên cơ sở đó các tác giả đã đưa ra những nội dung để có thể so sánh được những điểm khác biệt giữa Chế độ kế toán HCSN của Việt nam so với CMKT công quốc tế về ghi nhận nguồn vốn, danh mục BCTC, về ghi nhận hàng tồn kho… Trên cơ sở của sự khác biệt các tác giả đã đề xuất những nội dung Việt nam cần thực hiện trong thời gian tới.
3 luan an Phạm Quang Huy (2010) [18], trên cơ sở tìm hiểu kế toán công tại một số quốc gia và liên hệ thực tế tại Việt Nam, tác giả đã đề xuất một số giải pháp vận dụng cho khu vực công Việt Nam nhằm hướng tới việc ban hành CMKTCVN bao gồm: Thay đổi hành lang pháp lý; cải cách các thủ tục hành chính theo hướng công khai, đơn giản và thuận tiện cho dân; xóa bỏ các thủ tục hành chính mang tính quan liêu; cải cách hành chính đồng bộ từ Trung ương đến địa phương; đổi mới cơ chế phân cấp quản lý tài chính và ngân sách. Phạm Văn Khoan (2011) [19], nghiên cứu quá trình cải cách kế toán công Việt Nam và đánh giá thực trạng kế toán công hiện hành đã chỉ ra những hạn chế từ hệ thống kế toán công bao gồm: Chưa phản ánh đầy đủ các đối tượng kế toán Nhà nước; kế toán NSNN và KBNN, kế toán các quỹ công khác còn chủ yếu dựa vào phương pháp tiền mặt, trong khi kế toán Hành chính sự nghiệp áp dụng kế toán dồn tích có điều chỉnh nên chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý chi tiêu công theo kết quả đầu ra; những quy định áp dụng trong hệ thống kế toán công không phù hợp với IPSAS. Nghiên cứu này đã đưa ra những đề xuất nhằm cải cách hệ thống kế toán công Việt Nam phù hợp với thông lệ quốc tế, theo đó kế toán công Việt Nam cần xác định lại đối tượng kế toán, xây dựng Tổng kế toán Nhà nước và hoàn thiện tổ chức bộ máy kế toán Nhà nước, từng bước hòa nhập với thông lệ quốc tế. Thực hiện nghiên cứu thực trạng kế toán công Việt Nam bao gồm: Hệ thống pháp luật và các quy định chi phối hoạt động kế toán công Việt Nam, Ngô Thanh Hoàng (2014) [15] đã phân tích và chỉ ra những hạn chế của hệ thống kế toán công hiện hành như: Hạn chế từ hệ thống pháp lý cụ thể kế toán công Việt nam được quy định trải dài qua nhiều tầng pháp lý như Luật, nghị định, quyết định, thông tư và các văn bản hướng dẫn dưới luật; Cơ sở kế toán chưa rõ ràng làm cho chất lượng thông tin thấp, giảm hiệu quả quản lý và điều hành khu vực công; những khác biệt so với IPSAS về điều kiện ghi nhận, việc ghi nhận giá trị, kế toán quản trị trong lĩnh vực công cũng chưa được chú trọng.
Nghiên cứu này đưa ra một số đề xuất: (1) Hoàn hiện hệ thống pháp lý về kế toán trong khu vực công; (2) Ban hành chuẩn mực kế toán công theo hướng vận 4 luan an dụng IPSAS; (3) Cần có quy định phân biệt giữa lĩnh vực doanh nghiệp và lĩnh vực công khi thực hiện tính giá; (4) Đề xuất chia kế toán công thành 5 cấu phần: Kế toán trong lĩnh vực quản lý ngân sách, kế toán thu ngân sách, kế toán đơn vị sử dụng NSNN và đơn vị không sử dụng NSNN, kế toán các quỹ công chuyên dụng, kế toán nghiệp vụ và Tổng kế toán Nhà nước. Các nghiên cứu đã được công bố về kế toán ở các đơn vị HCSN Bùi Thị Yến Linh (2014) [4] "Tổ chức công tác kế toán tại các cơ sở y tế công lập tỉnh Quảng Ngãi", Luận án Tiến sĩ, Học viện tài chính.