phần mở đầu và kết luận, kết cấu bài khóa luận được chia làm 3 chương: Sinh viên: Nguyễn Thị Thu Hoa – QTL501K 1 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRƯỜNG ĐHDL HẢI PHÕNG Chƣơng 1: Lý luận chung về tổ chức công tác kế toán NVL và CCDC trong các doanh nghiệp sản xuất. Chƣơng 2: Thực trạng tổ chức công tác kế toán NVL và CCDC tại Công ty TNHH MTV Đóng và Sửa chữa tàu Hải Long. Chƣơng 3: Một số ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện công tác kế toán NVL và CCDC tại Công ty TNHH MTV Đóng và Sửa chữa tàu Hải Long. Mặc dù em đã cố gắng nghiên cứu, tìm hiểu và nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo nhiệt tình của cô giáo - Thạc sĩ Hoà Thị Thanh Hương cũng như các cô chú, anh chị trong phòng kế toán, em đã nắm được tình hình thực tế công tác kế toán nguyên vật liệu (NVL) và công cụ dụng cụ (CCDC) tại công ty TNHH MTV Đóng và Sửa chữa tàu Hải Long.
Tuy nhiên do trình độ lý luận và thời gian tiếp cận thực tế còn hạn chế nên bài viết của em không tránh khỏi những sai sót. Em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô giáo để bài khoá luận tốt nghiệp của em được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cám ơn !. Sinh viên Nguyễn Thị Thu Hoa Sinh viên: Nguyễn Thị Thu Hoa – QTL501K 2 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRƯỜNG ĐHDL HẢI PHÕNG CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU (NVL) VÀ CÔNG CỤ DỤNG CỤ (CCDC) TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1.
Những vấn đề chung về NVL và CCDC 1. Khái niệm NVL và CCDC Vật liệu là một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất kinh doanh, là cơ sở vật chất cấu thành nên thực thể sản phẩm dịch vụ, nó tham gia thường xuyên và trực tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm được sản xuất ra. Nếu thiếu nó thì quá trình sản xuất kinh doanh không thể tiến hành được, vật liệu được cung cấp đầy đủ đồng bộ, đảm bảo chất lượng là điều kiện quyết định khả năng tái sản xuất mở rộng. CCDC là những tư liệu lao động không có đủ đảm bảo điều kiện tiêu chuẩn quy định về giá trị và thời gian sử dụng như đối với TSCĐ.
Đặc điểm của NVL và CCDC Đặc điểm NVL: sau mỗi kỳ sản xuất vật liệu được tiêu dùng, toàn bộ hình thái vật chất ban đầu của nó không còn tồn tại, và nói khác đi là vật liệu bị tiêu hao hoàn toàn hay bị biến dạng đi trong quá trình sản xuất cấu thành nên thực thể sản phẩm.Trong quá trình tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, giá trị vật liệu chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất giá trị của vật liệu được dịch chuyển một lần và dịch chuyển toàn bộ vào giá trị sản phẩm sản xuất ra. Vật liệu được xếp vào tài sản lưu động. Đặc điểm CCDC: giống vật liệu ở chỗ có giá trị nhỏ nên được xếp vào tài sản lưu động (TSLĐ), CCDC tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu. CCDC được sử dụng và hạch toán giống như vật liệu nhưng trong quá trình tham gia vào sản xuất hoặc sử dụng giá trị công cụ được chuyển dần vào sản xuất kinh doanh do đó cần phân bổ vào chi phí sản xuất kinh doanh.
Sinh viên: Nguyễn Thị Thu Hoa – QTL501K 3 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRƯỜNG ĐHDL HẢI PHÕNG 1. Vai trò của NVL và CCDC trong sản xuất Trong các DN sản xuất, nguyên vật liệu là tài sản dự trữ sản xuất. Nó là cơ sở vật chất hình thành nên sản phẩm mới, là 1 trong 3 yếu tố không thể thiếu được khi tiến hành sản xuất sản phẩm. Vì vậy việc cung cấp nguyên vật liệu có kịp thời hay không đều có ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất.
Mặt khác chất lượng sản phẩm cao hay thấp phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng nguyên vật liệu sử dụng. Qua đó, ta thấy nguyên vật liệu có vị trí quan trọng như thế nào đối với các DN sản xuất kinh doanh, giá trị nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí sản xuất kinh doanh của một DN, chúng là đối tượng lao động trực tiếp của quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm. Thiếu nguyên vật liệu sản xuất sẽ bị đình trệ, giá trị sản phẩm của DN phụ thuộc rất nhiều vào tình hình biến động chi phí nguyên vật liệu vì chúng thường chiếm 60-80% giá thành sản phẩm. Từ đó cho thấy chi phí nguyên vật liệu có ảnh hưởng không nhỏ tới lợi nhuận của DN vì vậy đòi hỏi các DN phải chú trọng tới công tác kế toán nguyên vật liệu, để sử dụng nguyên vật liệu một cách hiệu quả nhất sao cho với cùng một khối lượng vật liệu nhất định có thể làm ra được nhiều sản phẩm hơn, chất lượng tốt hơn.Điều đó giúp DN có thể đứng vững và cạnh tranh trong cơ chế thị trường hiện nay.
Muốn vậy DN phải quản lý chặt chẽ vật liệu ở tất cả các khâu: Thu mua, bảo quản, dự trữ và sử dụng vật liệu nhằm hạ thấp chi phí vật liệu, giảm mức tiêu hao vật liệu có ý nghĩa quan trọng trong việc hạ thấp chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, tăng tích luỹ cho DN. Công tác quản lý NVL và CCDC Yêu cầu quản lý NVL và CCDC là quản lý ở tất cả các khâu, từ khâu thu mua đến bảo quản, dự trữ và sử dụng NVL và CCDC. Cụ thể là: - Ở khâu thu mua: Quản lý chặt chẽ quá trình thu mua NVL và CCDC về các mặt số lượng, chất lượng, quy cách, chủng loại, giá mua và chi phí mua cũng như các kế hoạch mua theo đúng tiến độ thời gian, phù hợp với kế hoạch sản xuất kinh doanh của DN. Vì vậy DN phải thường xuyên phân tích tình hình thu mua NVL và CCDC, tìm hiểu nguồn cung cấp để lựa chọn nguồn mua, đảm bảo về số lượng, chủng loại, quy cách với giá cả, chi phí mua là thấp nhất.
Sinh viên: Nguyễn Thị Thu Hoa – QTL501K 4 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRƯỜNG ĐHDL HẢI PHÕNG - Ở khâu bảo quản: Phải đảm bảo tổ chức tốt kho tàng bến bãi, thực hiện đúng chế độ bảo quản đối với vật liệu, hệ thống kho tàng, phương tiện vận chuyển phải phù hợp với tính chất, đặc điểm của từng loại vật tư nhằm hạn chế mất mát hư hỏng vật tư trong quá trình vận chuyển, bảo quản, đảm bảo an toàn vật tư về cả số lượng, chất lượng. -Ở khâu dự trữ: Phải lập dự trữ tối đa và tối thiểu cho từng loại, đảm bảo cho quá trình sản xuất không bị ngưng trệ, song cũng không dư thừa quá mức (không vượt quá mức tối đa) để tăng vòng quay của vốn và không nhỏ quá mức tối thiểu để sản xuất được liên tục, bình thường. -Quá trình sử dụng: Sử dụng hợp lý, tiết kiệm trên cơ sở các định mức, và dự toán chi phí sản xuất có ý nghĩa rất quan trọng trong việc hạ thấp chi phí và giá thành. Do vậy trong khâu sản xuất cần lập định mức tiêu hao NVL và CCDC và có quy chế trách nhiệm cụ thể đối với việc sử dụng NVL và CCDC, xác định đúng giá trị NVL và CCDC đã sử dụng để tính vào chi phí.
Nói tóm lại, tăng cường công tác quản lý NVL và CCDC là cần thiết và tất yếu trong các DN sản xuất. Có quản lý tốt NVL và CCDC mới đảm bảo cho quá trình sản xuất được diễn ra liên tục, không bị ngừng trệ. Và có làm tốt công tác quản lý NVL và CCDC sẽ giảm bớt chi phí trong giá thành sản phẩm, mang lại lợi nhuận cao nhất. Bên cạnh đó, những thông tin về mức chi phí thực tế của NVL và CCDC xuất dùng và sử dụng đó cũng là cơ sở để cấp lãnh đạo đưa ra quyết định đúng đắn.
Nội dung công tác kế toán NVL và CCDC 1. Nhiệm vụ của kế toán NVL và CCDC Xuất phát từ yêu cầu quản lý NVL và CCDC kế toán với vai trò là công cụ quản lý có các nhiệm vụ sau: - Phân loại vật liệu theo tiêu thức quản lý của DN và lập danh điểm vật liệu đảm bảo tính thống nhất giữa các bộ phận trong DN. - Tổ chức hạch toán ban đầu NVL và CCDC, tổ chức lập và luân chuyển chứng từ hạch toán NVL và CCDC trong DN. Sinh viên: Nguyễn Thị Thu Hoa – QTL501K 5 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRƯỜNG ĐHDL HẢI PHÕNG - Áp dụng đúng đắn các phương pháp kỹ thuật về hạch toán.
Tổ chức tài khoản, tổ chức sổ kế toán phù hợp với phương pháp kế toán hàng tồn kho của doanh nghiệp để ghi chép phản ánh tổng hợp số liệu về tình hình nhập - xuất - tồn vật tư theo cả hiện vật và giá trị. Tính toán đúng giá trị thực tế của NVL và CCDC nhập, xuất kho. - Kiểm tra tình hình thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch về thu mua, kế hoạch sử dụng NVL và CCDC cho sản xuất. - Xác định các báo cáo quản trị NVL và CCDC theo yêu cầu thông tin của quản lý.
Tổ chức lập và phân tích các báo cáo này, đồng thời cung cấp thông tin cho việc lập báo cáo tài chính và phân tích kết quả kinh doanh. Phân loại NVL và CCDC Do quá trình sản xuất của doanh nghiệp sử dụng nhiều loại NVL và CCDC khác nhau cho những mục đích khác nhau để nhằm chế tạo ra sản phẩm thực hiện lao vụ dịch vụ nên cần thiết phải tiến hành phân loại NVL và CCDC theo những tiêu thức và đặc trưng nhất định. Phân loại NVL: - Nếu căn cứ vào công dụng kinh tế và vai trò của từng loại NVL trong quá trình sản xuất kinh doanh, có thể chia NVL thành: NVL chính (gồm cả nửa thành phẩm mua ngoài) NVL chính: Là đối tượng lao động chủ yếu cấu thành nên thực thể sản phẩm. NVL chính như sắt thép trong các DN chế tạo máy cơ khí, xây dựng cơ bản; bông trong các nhà máy sợi; vải trong các DN may… Đối với nửa thành phẩm mua ngoài là vật liệu chính với mục đích tiếp tục quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm, hàng hoá.
NVL phụ: Là đối tượng lao động nhưng khi sử dụng chỉ có tác dụng phụ trong quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm.