CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TUYỂN DỤNG NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về nguồn nhân lực trong doanh nghiệp 1. Khái niệm cơ bản về nhân lực Nhân lực được hiểu là toàn bộ các khả năng về thể lực và trí lực của con người được vận dụng ra trong quá trình lao động sản xuất. Nó cũng được xem là sức lao động của con người – một nguồn lực quý giá nhất trong các yếu tố của sản xuất của các doanh nghiệp.
Nhân lực của doanh nghiệp bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong doanh nghiệp. Hà Văn Hội, 2006)[1] Nguồn nhân lực của một tổ chức được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định.Trần Kim Dung, 2010)[2] Theo Liên Hợp quốc thì “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước”. Ngân hàng thế giới cho rằng: nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân. Như vậy, ở đây nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên.
Nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển. Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường. Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động.[3] 4 Các khái niệm trên mặc dù có những điểm khác nhau, nhưng đều thể hiện: Nguồn nhân lực là toàn bộ khả năng về sức lực, trí tuệ của mọi cá nhân bất kể nắm chức vụ, vai trò trong tổ chức. Vai trò của nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là nhân tố chủ yếu tạo lợi nhuận cho doanh nghiệp: Nguồn nhân lực đảm bảo nguồn sáng tạo trong tổ chức.
Chỉ có con người mới sáng tạo ra các hàng hóa, dịch vụ và kiểm tra được quá trình sản xuất kinh doanh đó. Mặc dù trang thiết bị, tài sản, nguồn tài chính là những nguồn tài nguyên mà các tổ chức đều cần phải có, nhưng trong đó tài nguyên nhân văn-con người lại đặc biệt quan trọng. Không có những con người làm việc hiệu quả thì tổ chức đó không thể nào đạt tới mục tiêu. Nguồn nhân lực là nguồn lực mang tính chiến lược: Trong điều kiện xã hội đang chuyển sang nền kinh tế tri thức, thì các nhân tố công nghệ, vốn, nguyên vật liệu đang giảm dần vai trò của nó.
Bên cạnh đó, nhân tố tri thức của con người ngày càng chiếm vị trí quan trọng: Nguồn nhân lực có tính sáng tạo, năng động và hoạt động trí óc của con người ngày càng trở nên quan trọng. Nguồn nhân lực là nguồn lực vô tận: Xã hội không ngừng tiến lên, doanh nghiệp ngày càng phát triển và nguồn lực con người là vô tận. Nếu biết khai thác nguồn lực này đúng cách sẽ tạo ta nhiều của cải vật chất cho xã hội, thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người. Tuyển dụng nguồn nhân lực 1.
Khái niệm tuyển dụng Theo Phạm Bá Thắng (2017). Tuyển dụng nhân lực là quá trình tìm kiếm, thu hút, lựa chọn và đánh giá các ứng viên theo nhiều khía cạnh khác nhau dựa vào các yêu cầu của công việc, để tìm được những người phù hợp bổ sung lực lượng lao động cần thiết nhằm đáp ứng được yêu cầu sử dụng lao động của tổ chức. Quá trình tuyển dụng được coi là hoàn tất khi bao gồm cả hoạt động định 5 hướng nhân viên, hướng dẫn nhân viên mới hòa nhập trong môi trường của tổ chức. Tuyển dụng chính là quá trình tìm kiếm, thu hút những ứng cử viên từ những nguồn khác nhau (trong và ngoài tổ chức) tham gia dự tuyển, và lựa chọn trong số họ những người phù hợp nhất với yêu cầu công việc đặt ra, sắp xếp đúng người đúng việc và giúp đỡ họ làm quen với doanh nghiệp và công việc mới, nhằm bổ sung lực lượng lao động cần thiết nhằm thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp.
Quá trình tuyển dụng được coi là hoàn tất khi bao gồm cả hoạt động định hướng nhân viên , hướng dẫn nhân viên mới hòa nhập với tổ chức. Tuyển dụng là một khâu có ý nghĩa quan trọng, góp phần quyết định chất lượng nguồn lao động của doanh nghiệp. Tuyển dụng là một trong những kỹ năng thiết yếu của người quản lý, và cũng là nền tảng vững chắc cho sự thịnh vượng và bền vững của tổ chức.[7] Các khái niệm trên mặc dù có những điểm khác nhau, nhưng đều thể hiện: Tuyển dụng nhân lực là quá trình tìm kiếm, thu hút và lựa chọn nhân lực để thỏa mãn nhu cầu sử dụng và bổ sung lực lượng lao động cần thiết nhằm thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp. Mục tiêu của công tác tuyển dụng Mục tiêu chính của việc tuyển dụng nhân sự là tuyển lựa được những nhân viên có trình độ học vấn, có năng lực kinh nghiệm, phẩm chất làm việc phù hợp với yêu cầu của công việc.
Tích cực khi đảm nhận mỗi công việc của doanh nghiệp, vào một thời điểm và ở một nơi phù hợp với một chi phí có thể chấp nhận được. Đồng thời đảm bảo nguồn nhân lực cho các công việc và theo kế hoạch.[9] Vì vậy với mỗi doanh nghiệp cần có phương pháp, kế hoạch cụ thể với từng vị trí, thời điểm để đưa ra hiệu quả trong quá trình tuyển dụng. Vai trò của công tác tuyển dụng 6 a, Đối với doanh nghiệp - Tuyển dụng nhân lực đóng vai trò quan trọng trong việc bổ sung lực lượng lao động cần thiết, chỉ khi làm tốt khâu tuyển dụng mới có thể làm tốt các khâu tiếp theo. Nếu chất lượng nhân lực không tốt có thể dẫn đến suy yếu nguồn nhân lực, hoạt động kinh doanh kém hiệu quả, lãng phí nguồn lực.
- Chất lượng của đội ngũ nhân sự tốt sẽ giúp doanh nghiệp cạnh tranh bền vững với đối thủ đồng thời tạo chỗ đứng vững chãi trên thị trường, giảm chi phí kinh doanh và dùng ngân sách hiệu quả. - Con người là người sử dụng tài nguyên của doanh nghiệp, vì vậy khi tuyển dụng được nhân lực biết cách sử dụng tài nguyên đúng cách sẽ giúp tiết kiệm chi phí như: ngân sách, máy móc, thiết bị, cơ sở vật chất,. - Tuyển dụng nhân lực tạo động lực cho nội bộ nhân viên thi đua, cạnh tranh lành mạnh giúp cho doanh nghiệp có môi trường văn hóa lành mạnh và phát triển. b, Đối với người lao động - Tuyển dụng nhân lực giúp người lao động có việc làm, có cơ hội thăng tiến và nâng cao thu nhập cải thiện đời sống.
- Giúp cho người lao động có cơ hội đánh giá về bản thân, đánh giá năng lực cá nhân từ đò mà có cơ sở phát triển năng lực. - Những đợt tuyển dụng cũng là đợt thăng chức cho nhân viên tại công ty, vì thế tạo động lực giúp người lao động tự đào tạo, nâng cao kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm,. c, Đối với xã hội - Thúc đẩy nền kinh tế, nâng cao tỷ lệ dân cư có việc làm, giảm thiểu tỷ lệ thất nghiệp, giảm tỷ lệ tệ nạn xã hội và sử dụng. 7 - Tuyển dụng nhân lực giúp các doanh nghiệp hình thành nên nhu cầu của xã hội, giúp định hướng cho việc nâng cao chất lượng đào tạo, hệ thống hướng nghiệp của xã hội.
Nguyên tắc tuyển dụng Con người là nền tảng để doanh nghiệp phát triển bền vững, vậy để thu hút được nhân tài cần phải có chiến lược tuyển dụng phù hợp. Để làm được điều đó, nhà tuyển dụng nên hiểu rõ về những nguyên tắc sau đây: - Tuyển dụng nhân lực theo nhu cầu thực tiễn: Nhu cầu này phải được phản ánh trong chiến lược và chính sách nhân viên của doanh nghiệp và trong kế hoạch tuyển dụng của mỗi bộ phận của doanh nghiệp. - Dân chủ và công bằng: Mọi người đều có quyền và có điều kiện được bộc lộ phẩm chất tài năng của mình. Đối với bất kỳ một vị trí, cương vị nào đang tuyển dụng, các yêu cầu, tiêu chuẩn, điều kiện cần thiết đều cần được công khai rộng rãi để mọi người đều được bình đẳng trong việc tham gia ứng cử.
Lãnh đạo doanh nghiệp cần kiên quyết khắc phục tư tưởng “sống lâu lên lão làng”, tư tưởng đẳng cấp, thứ bậc theo kiểu phong kiến, khắc phục tình trạng ô dù, cảm tình, ê kíp, bè phái, cục bộ. - Tuyển dụng tài năng qua thi tuyển: Đây là vấn đề khá quan trọng đối với nhiều doanh nghiệp. Việc tuyển dụng qua thi tuyển cần được áp dụng rộng rãi vì mục đích của tuyển dụng là nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ nhân viên về mọi mặt. doanh nghiệp cần tạo điều kiện thuận lợi để thu hút nhiều người tham gia thi tuyển vào một vị trí, hết sức tránh tình trạng “độc diễn”.
Người tham gia ứng cử hoặc đề cử vào một chức vụ nào đó phải có đề án công việc, có chương trình hành động cụ thể. Có thể áp dụng hình thức thuyết trình công khai để mọi người tham gia lựa chọn. Đồng thời phải tổ chức Hội đồng thi tuyển có thành phần phù hợp với việc tuyển chọn từng vị trí nhất định. Hội đồng có Quy chế làm việc chặt chẽ, đảm bảo tính khách quan, trung thực và có quyền độc lập khi đánh giá.
Ý kiến của Hội đồng phải được tôn trọng. Kết hợp thi tuyển chuyên 8 môn, sát hạch năng lực với việc đánh giá các phẩm chất đạo đức của nhân viên thông qua thăm dò tín nhiệm và sự lựa chọn dân chủ của các nhân viên khác trong doanh nghiệp. Sau khi có sự thống nhất giữa kết quả thi tuyển về chuyên môn với việc đánh giá về phẩm chất chuyên môn, đạo đức mới ra quyết định tuyển dụng, bổ nhiệm. - Tuyển dụng phải có điều kiện, tiêu chí rõ ràng: Nguyên tắc này nhằm tránh việc tùy tiện trong quá trình tuyển dụng nhân viên kiểu “yêu nên tốt, ghét nên xấu” hoặc chủ quan, cảm tính trong quá trình nhận xét đánh giá con người.