CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VE CÔNG TÁC THAM DỰ THAU TẠI MỘT DOANH NGHIỆP 1. KHÁI QUÁT CHUNG VE DAU THAU 1. Khái niệm đấu thầu Theo nghĩa rộng, dau thầu là quá trình dé lựa chọn nhà cung cấp (hàng hóa, công trình hoặc dịch vụ) mà trong đó bên mua tức bên mời thầu và bên bán hay chính là những nhà thầu phải tuân thủ theo những quy định của tổ chức quản lý nguồn vốn sử dụng cho hoạt động mua bán này. Theo nghĩa hẹp, dau thầu là quá trình lựa chọn nhà cung cấp (hàng hóa, dịch vụ hoặc công trình) mà sẽ được áp dụng trong những trường hợp mà dự án sử dụng vốn do Nhà nước quản lý.
Hoạt động đầu thầu là một cách tự nhiên dé xác định giá cả trong nền kinh tế thị trường tự do. Vì vậy, nó cũng chỉ có thể xuất hiện tại nền kinh tế thị trường và do đó nó tuân theo những quy luật kinh tế như cung cau, quy luật giá cả giá trị. Trích theo Khoản 12, Điều 4 Luật Dau thầu 2013: “Đấu thầu là một quá trình lựa chọn nhà thâu dé kí kết, thực hiện hợp đồng Cung cấp dich vụ tu van, mua sam hàng hóa, dich vụ phi tư vấn, xây lắp; lựa chọn nhà đầu tư dé kí kết, thực hiện hợp đồng dự án đâu tư dưới hình thức đối tác công tu, dự án dau tư có sử dụng đất trên cơ sở bảo đảm cạnh tranh, mình bạch, công bằng và hiệu quả kinh tế.” Theo Giáo trình Đấu thầu, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân: “Dau thầu là một phan của quá trình mua sắm. Quá trình mua sắm được bắt dau khi bên mua có nhu câu mua sắm và kết thúc sau khi bên mua nhận đây đủ sản phẩm muốn mua.
Còn quá trình dau thầu bắt dau từ khi bên mua lập kế hoạch mua sắm và kết thúc sau khi bên mua lựa chọn được bên ban”. Đấu thầu đã được sử dụng ở nhiều lĩnh vực kinh tế khác nhau để xác định được nhu cầu và theo đó giá trị của tài sản. Đây cũng là một trong những phương thức mua bán rat phổ biến và hiệu quả hiện nay trên thị trường cả nội dia và quốc tế. Đặc biệt với thời buổi công nghệ số, việc đấu thầu trên nên tảng internet ngày càng được ưu chuộng vi sự tiện lợi và giảm thiêu chi phí.
Đặc điểm của đấu thầu Dau thâu là một hoạt động thương mai: Dau thầu là hoạt động diễn ra trong mỗi quan hệ giữa bên mời thầu và nhà thầu. Cụ thé, nhà thầu là chủ thé có đủ điều kiện, đủ năng lực dé tham dự thầu với mục dich hướng tới là lợi nhuận, còn bên mời thầu tham gia với cương vị là “người ra đề”, thiết lập hợp đồng mua bán hàng hóa và sử dụng dịch vụ trên cơ sở điều kiện tốt nhất về phía họ. Dau thâu là một giai đoạn tiền hợp đồng: Hoạt động dau thầu chỉ tồn tại khi con người có nhu cầu về mua săm hàng hóa, sử dụng dịch vụ. Xuất phát từ khái niệm đấu thầu theo Luật đấu thầu 2013, có thể hiểu mục đích của dau thầu là tìm ra được nhà thầu có khả năng cung ứng hàng hóa, dịch vụ với mức giá và chất lượng cạnh tranh nhất.
Và khi đã tìm được người thăng thầu, ở bước tiếp theo, bên mời thầu sẽ đàm phán, ký kết hợp đồng với chủ thé này nhằm dao bảo quyên lời, nghĩa vụ của hai bên. Chủ thể tham gia quan hệ đấu thầu hàng hóa, dịch vụ: Như đã đề cập, dau thầu là hoạt động diễn ra trong mối quan hệ về cơ bản là giữa bên mời thầu và nhà thầu. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, có thể xuất hiện bên thứ ba phải kế đến như công ty tư vấn giúp lập hồ sơ mời thầu, chuyên gia giúp đỡ và đánh giá hồ sơ dự thầu. Tuy nhiên, đây là hoạt động không qua trung gian và không có thương nhân làm dịch vụ đấu thầu hàng hóa, dịch vụ cho thương nhân khác dé nhận thù lao.
Trong khi đó, Điều 32 Luật đâu thầu 2013, quy định về Tổ chức đấu thầu chuyên nghiệp: “7ổ chức đấu thầu chuyên nghiệp bao gom đại lý đấu thâu, don vị sự nghiệp được thành lập với chức năng thực hiện đấu thầu chuyên nghiệp, việc thành lập và hoạt động của đại lý đầu thâu thực hiện theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp. ” Quan hệ đấu thầu luôn được diễn ra giữa một bên mời thầu với nhiều nhà thầu tham dự, ngoại trừ chỉ định thâu. Hình thức pháp lý: Hình thức pháp lý của quan hệ đấu thầu hàng hóa và dịch vụ là hồ sơ mời thầu, hồ sơ dự thầu. Theo Luật đấu thầu 2013, “Hồ sơ mời thầu (HSMT) là toàn bộ tài liệu sử dụng cho hình thức dau thầu rộng rãi, đấu thâu hạn chế, bao gốm các yêu cầu cho một du án, gói thâu, lam căn cứ dé nhà thấu, nhà dau tư chuẩn bị hô sơ dự thấu va dé bên mời thâu tổ chức đánh giá hô sơ dự thầu nhằm lựa chọn nhà thâu, nhà dau tư.” Còn “Hồ sơ dự thâu (HSDT), hồ sơ dé xuất là toàn bộ tài liệu do nhà thâu, nhà đâu tư lập và nộp cho bên mời thâu theo yêu câu của hồ Sơ mời thầu, hô sơ yêu cau.” Hiéu nôm na thì hô sơ mời thâu chính là “đê bài” mà bên mời thâu đưa ra, còn hô sơ dự thâu chính là “bài giải” cho đê bài đó.
Giá gói thầu: Theo Luật dau thầu 2013, “Giá gói thâu là giá trị của gói thầu được phê duyệt trong kế hoạch lựa chọn nhà thầu. ” Nói cách khác đây là giá đưa ra dựa trên tính toán cũng như khả năng tài chính của bên mời thầu. Bên dự thầu có thé ra giá thấp hơn hoặc cao hơn so với giá gói thầu. Tuy nhiên, nếu mức giá đưa ra quá cao so với mức giá mà bên mời thầu đã đề ra thì nhiều khả năng nhà thầu này không thé trúng thầu dù các yêu tố khác có tốt đến thé nào đi chăng nữa.
Và ngược lai, với những mức giá thấp hơn, lại càng có nhiều cơ hội. Nguyên tắc của đấu thầu 1. Nguyên tắc cạnh tranh Công tác dau thầu có sự tham dự của các nhà thầu thuộc mọi thành phần kinh tế chỉ cần đáp ứng đủ khả năng về tài chính, kỹ thuật và có mong muốn được tham gia. Các nhà thầu trong nước hay nước ngoài đều được tạo điều kiện thuận lợi ngang nhau, không thiên vị, không chênh lệch.
Tuy nhiên, trên thực tế nguyên tắc này có nhiều trường hợp còn khó khăn không thê thực hiện hay áp dụng được: Thứ nhất, Những doanh nghiệp, công ty theo hình thức cổ phần hiện nay đang rất phô biến. Điều này dẫn đến việc những nhà thầu tham dự cùng một gói thầu có thể là cổ đông của nhau hay cùng có một cô đông chung. Các nhà thầu này dù cho ai trúng thầu cũng đều có cơ hội dé mang lại lợi ich cho người khác. Do đó, khi tham gia thầu những nhà thầu này không những có thể không cạnh tranh lẫn nhau mà ngược lại, họ có liên kết với nhau và tạo áp lực tiêu cực lên bên mời thầu.
Thứ hai, trong trường hợp các nhà tài trợ vốn ODA song phương đưa ra những rằng buộc đối với nguồn vốn. Điều này khiến cho việc tham dự tuy vẫn có tính chất cạnh tranh giữa nhà thầu của nước tài trợ và nước nhận vốn, tuy nhiên do sự chênh lệch giữa trình độ và kỹ thuật quá nhiều phần lớn dự án từ nguồn vốn ODA song phương bên trúng thầu là nhà thầu từ nước cho vay. Nguyên tắc công bằng Bên mời thầu phải có trách nhiệm cung cấp thông tin đầy đủ về cả số lượng, chất lượng và thời điểm nhằm đảm bảo sự công tâm đỗi với các nhà thầu. Và ngược lại, bên phía nhà thầu khi đã được hưởng quyên lợi thì phải thực hiện nghĩa vụ ngang nhau.
Tuy nhiên, trên thực tế, vẫn tồn tại sự chênh lệch ưu tiên nhất định giữa các nhóm nhà thầu. Điền hình như là đấu thầu quốc tế, nhóm thầu trong nước thường sẽ được ưu ái hơn so với nhóm thầu nước ngoài. Nguyên tắc công khai Các thông tin về hoạt động đấu thầu phải được thông báo rộng rãi và đây đủ trên trên các phương tiện thông tin phù hợp dé các cá nhân, tổ chức được tiếp cận một cách kịp thời. Các thông tin này bao gồm chủ thể tô chức, thời gian, địa điểm, quy mô, nhà thầu vi phạm, nhà thầu trúng thầu, quy cách xử lý các van đề trong hoạt động này.
Bên cạnh đó, sẽ có những thông tin không được phép công khai như nội dung Hồ sơ dự thầu, kết quả đánh giá chi tiết HSDT, nội dung chỉ tiết của hợp đồng. Một trong những lưu ý khi thực hiện nguyên tắc này đó là các bên tham gia phải nắm rõ được phạm vi, phương tiện và thời điểm truyền thông. Nguyên tắc minh bạch Các thông tin trong HSMT cũng như quyết định do các bên liên quan đến công tác đấu thầu đưa ra phải được cung cấp đầy đủ, rõ ràng và đáng tin cậy, tránh gây nhằm lẫn cho các bên. Bên cạnh đó, các thông tin và quyết định ké trên phải có cơ sở khách quan, minh bạch, tránh gây nghi ngờ.
Dé đảm bảo nguyên tắc này thì những tiêu chí dung dé đánh giá HSDT phải được xây dựng một cách dễ hiểu, hợp lý, không nên sử dụng những tiêu chí quá phức tạp, mang tính chủ quan. Những chỉ tiêu này nên giúp nhà thầu có thê dễ dàng đánh giá được khả năng của chính mình. Nguyên tac hiệu qua Đấu thầu phải bảo đảm hiệu quả về cả kinh tế lẫn xã hội do nó sử dụng nguồn tiên của nhà nước hoặc do nhà nước quản chê. Cụ thê: Đôi với khía cạnh kinh tê, nhà thâu trúng thâu phải đáp ứng các yêu câu về chất lượng, thời gian thực thi sao cho thỏa mãn thông số chi phí là ít tốn kém nhất Đối với khía cạnh xã hội, trong một số tình huống như “phòng ngừa thiên tai, bệnh dịch của một địa phương, hay quốc gia”, cần linh động ưu tiên lợi ích của người dân lên hàng đầu.
Do đó, dù mức giá cao hơn bình thường nhà thầu đó vẫn sẽ trúng thầu. Tuy nhiên vì hiệu quả về mặt kinh tế đôi lúc có thể mâu thuẫn với hiệu quả về mặt xã hội khi thực hiện hoạt động đấu thầu khẩn cấp dé phòng ngừa hoặc khắc phục sự cô không mong muốn, thiên tai thì cần phải đặt lợi ích của người dân lên đầu.