Chương 1 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Giới thiệu các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài Giới thiệu và phân tích khái quát các công trình nghiên cứu có liên quan + Các luận văn thạc sỹ: Biện pháp quản lý cơ sở vật chất của Hiệu trưởng trường Cao đẳng Sư phạm Đắk Lắk – Tác giả Hà Văn Ánh, nơi bảo vệ Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, năm bảo vệ 2009. Biện pháp quản lý hoạt động dạy học ở Trường Cao đẳng Sư phạm Đắk Lắk – Tác giả Phạm Vũ Tuấn, nơi bảo vệ Trường Đại học Quy Nhơn, năm bảo vệ 2012. Biện pháp quản lý hoạt động thanh tra giáo dục của Hiệu trưởng trường Cao đẳng Sư phạm Đắk Lắk – tác giả Hồ Hồng Nhiệm, nơi bảo vệ Trường Đại học Sư phạm Hà nội, năm bảo vệ 2009.
Tiếp tục củng cố và nâng cao năng lực của nhà trường về mọi mặt, đáp ứng yêu cầu của một trường đa cấp, đa ngành và định hướng nghề nghiệp-ứng dụng để đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục và một số loại hình cán bộ các ngành nghề khác có chất lượng cao, trong đó đặc biệt chú trọng bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục và phát triển kinh tế - xã hội trong công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Phát triển trường Cao đẳng Sư phạm Đắk Lắk một cách toàn diện, thật sự mạnh, có chất lượng cao theo hướng tiếp cận đại học, phấn đấu đến năm 2016 đảm bảo đủ điều kiện nâng cấp thành trường đại học. 7 Để thực hiện mục tiêu trên, nhà trường đang tập trung thực hiện các vấn đề trọng tâm sau đây: Một là, xây dựng chiến lược phát triển nhà trường đúng hướng. Hai là, xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý chất lượng cao; đồng thời thực hiện mô hình đổi mới quản lý nhà trường hiệu quả.
Ba là, tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị theo hướng đồng bộ, hiện đại. Bốn là, mở rộng quy mô và các loại hình đào tạo theo hướng đa ngành. Năm là, đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học và hoạt động phổ biến, ứng dụng khoa học công nghệ để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực. Định hướng nghiên cứu của luận văn Sau khi thực hiện Nghị định 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ, đến nay Trường Cao đẳng Sư phạm Đắk Lắk đã tích cực cải cách và đổi mới cơ chế quản lý tài chính nói chung và công tác kế toán nói riêng, chủ động nâng cao công tác dạy học và tăng các dịch vụ đào tạo nhằm tăng các nguồn thu, sử dụng hiệu quả các khoản chi phí.
Tuy nhiên việc thực hiện quản lý tài chính trong Nhà trường cũng còn bộc lộ nhiều bất cập, cụ thể như sau: - NSNN cấp cho Nhà trường chưa thực sự đầy đủ, nhu cầu về kinh phí luôn luôn trong tình trạng cung nhiều hơn cầu. - Khung giá học phí (đối với các ngành ngoài sư phạm) có tăng nhưng vẫn chưa phù hợp đủ để bù đắp phần chi phí ngày càng tăng theo giá cả thị trường - Trường học phải chi phí nhiều nhưng lại không được cấp kinh phí đủ cho chi hoạt động, Trường học phải lấy từ nguồn thu sự nghiệp ra chi trả các khoản thiếu hụt làm ảnh hưởng đến chênh lệch thu chi cũng như trích lập các quỹ 8 - Việc mua sắm, bàn giao tài sản chưa hợp lý, chưa phối hợp được giữa các khoa, phòng có liên quan đến quá trình bàn giao. - Thu nhập của CBVC ảnh hưởng đến quá trình dạy và học, nhiều cán bộ giáo viên chỉ thiên về kinh tế hơn chuyên môn giảng dạy, nghĩa là chỉ chăm lo dạy dịch vụ mà ít quan tâm đến việc chính giảng dạy tại đơn vị Nguồn kinh phí hoạt động của các đơn vị sự nghiệp giáo dục – đào tạo công lập có được là từ 4 nguồn sau: nguồn kinh phí do NSNN cấp; nguồn thu từ hoạt động giáo dục đào tạo; nguồn vốn viện trợ, quà biếu, tặng theo quy định của pháp luật; nguồn khác. Cụ thể như sau: - Kinh phí do NSNN cấp, gồm: + Kinh phí đảm bảo hoạt động thường xuyên thực hiện chức năng nhiệm vụ đối với đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động (sau khi đã cân đối nguồn thu sự nghiệp), được cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp giao, trong phạm vi dự toán được cấp có thẩm quyền giao.
+ Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ khoa học công nghệ + Kinh phí thực hiện chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức + Kinh phí thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia + Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền đặt hàng như: điều tra, quy hoạch, khảo sát, các nhiệm vụ khác + Kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao + Kinh phí thực hiện chính sách tinh giảm biên chế theo chế độ do nhà nước quy định + Vốn đầu tư xây dựng cơ bản, kinh phí mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài sản cố định phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án có thẩm quyền phê duyệt trong phạm vi dự toán được giao hàng năm + Vốn đối ứng thực hiện các dự án có nguồn vốn nước ngoài được cấp có thẩm quyền phê duyệt + Kinh phí khác (nếu có). 9 Cơ chế quản lý đối với nguồn kinh phí NSNN cấp: Đơn vị muốn nhận được kinh phí phải tuân thủ đầy đủ, nghiêm túc các quy định của Luật NSNN từ khâu lập, chấp hành đến quyết toán nguồn NSNN cấp. Đơn vị chỉ được cấp kinh phí NSNN cấp khi có trong dự toán được duyệt, chi đúng tiêu chuẩn định mức, có đầy đủ hồ sơ chứng minh về chi tiêu. - Nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp, gồm: + Phần được để lại từ số thu phí, lệ phí cho đơn vị sử dụng theo quy định của nhà nước + Thu từ hoạt động dịch vụ phù hợp với lĩnh vực chuyên môn và khả năng của đơn vị, cụ thể đối với đơn vị sự nghiệp giáo dục – đào tạo: Thu từ hợp đồng đào tạo với các tổ chức trong và ngoài nước; thu từ các hoạt động sản xuất, tiêu thụ sản phẩm thực hành thực tập, sản phẩm thí nghiệm; thu từ các hợp đồng dịch vụ khoa học và công nghệ và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật - Các Trường tư thục, trung tâm tư càng hình thành ngày càng nhiều dẫn đến sự cạnh trang giữa các Trường để thu hút nguồn đào tạo.
Trước những bất cập đó, công tác quản trị tài chính tại Trường học là hết sức quan trọng để đảm bảo tính hiệu quả và công bằng trong việc dạy học. Đề tài “Hoàn thiện quản trị tài chính tại Trường Cao đẳng Sư phạm Đắk Lắk” đưa ra một số định hướng phát triển Trường Cao đẳng Sư phạm Đắk Lắk 10 Chương 2 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH TRONG TRƯỜNG CÔNG LẬP 2. Một số khái niệm cơ bản 2. Trường công lập Trường công lập là một trong những đơn vị sự nghiệp Nhà nước tự đảm bảo một phần kinh phí hoạt động; là đơn vị sự nghiệp hoạt động trong lĩnh vực giáo dục đào tạo.
Tuy nhiên nhiều người vẫn còn lẫn lộn, chưa phân biệt rạch ròi giữa Trường công lập, Đơn vị sự nghiệp công lập và cơ quan hành chính nhà nước. Trường học công lập chúng ta có thể hiểu là một bộ phận hợp thành của bộ máy nhà nước về giáo dục, được thành lập để thực hiện chức năng đào tạo. Trường học công lập mang đầy đủ đặc điểm của đơn vị sự nghiệp nói chung; tuy nhiên bên cạnh đó Trường học công lập cũng có những đặc điểm riêng biệt giúp phân biệt với các đơn vị sự nghiệp khác trong bộ máy giáo dục quốc dân. Việc tìm hiểu khái niệm của Trường học công lập không chỉ giúp chúng ta có thể nhận biết các Trường học công lập trong bộ máy giáo dục mà còn giúp xác định vai trò của Trường học công lập với các trường tư thục, các trung tâm, các công ty hoạt động trong lĩnh vực giáo dục.
Trường công lập; Đơn vị sự nghiệp công lập chúng ta có thể hiểu rằng: - Là các đơn vị do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập, hoạt động cung cấp dịch vụ công trong các lĩnh vực giáo dục, khoa học công nghệ, môi trường, y tế, văn hóa thể dục thể thao, sự nghiệp kinh tế, dịch vụ việc làm. - Được nhà nước đầu tư cơ sở vật chất, đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên để thực hiện các nhiệm vụ chính trị, chuyên môn được giao. - Trường học công lập được Nhà nước cho phép thu một số loại phí, lệ phí, được tiến hành hoạt động sản xuất cung ứng dịch vụ để bù đắp chi phí 11 hoạt động, tăng thu nhập cho cán bộ, viên chức. - Có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng.
Qua phân tích trên, chúng ta có thể khái niệm một cách chính thống về Trường học công lập như sau: Trường công lập là đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý Nhà nước về chuyên môn giáo dục đào tạo. Tài chính của Trường công lập Theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 04 năm 2006 của Chính phủ và thông tư hướng dẫn số 71/2006/TT-BTC ngày 09 tháng 08 năm 2006 đã quy định rõ quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập nói chung và đơn vị sự nghiệp giáo dục – đào tạo công lập nói riêng. Theo đó, trong tự chủ tài chính, đơn vị sự nghiệp giáo dục – đào tạo công lập được quyền mở rộng hoạt động chuyên môn của mình để khai khác tối đa các nguồn thu mà pháp luật không cấm, đồng thời được quyền chủ động sử dụng các nguồn thu đó để chi cho các hoạt động của mình. Việc khai thác các nguồn thu và sử dụng nguồn thu phải theo quy định của pháp luật.
Nhà nước khuyến khích đơn vị mở rộng hoạt động, khai thác nguồn thu để có thể tự trang trải chi phí cho mọi hoạt động của đơn vị mà không cần đến sự hỗ trợ từ NSNN.