phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn đƣợc kết cấu thành ba chƣơng: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về Ban Quản lý Khu kinh tế và quản trị nhân sự tại Ban Quản lý Khu kinh tế Chƣơng 2: Đánh giá thực trạng công tác quản trị nhân sự tại Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng Chƣơng 3: Một số biện pháp hoàn thiện công tác quản trị nhân sự tại Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng 5 CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ BAN QUẢN LÝ KHU KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ NHÂN SỰ TẠI BAN QUẢN LÝ KHU KINH TẾ 1. Tổng quan về Khu kinh tế và Ban Quản lý Khu kinh tế 1. Khái niệm về Khu kinh tế “Khu kinh tế (KKT)” là tên gọi chung cho các khu vực đặc biệt đƣợc thành lập trong một quốc gia nhằm thu hút đầu tƣ trong và ngoài nƣớc bằng các biện pháp khuyến khích đặc biệt. Khu kinh tế có một mục tiêu chính là khơi dậy nguồn lực sản xuất tại chỗ và thu hút nguồn lực sản xuất từ nơi khác; là hạt nhân và là động lực phát triển kinh tế - xã hội có tính chất vùng trong chiến lƣợc phát triển quốc gia.
Theo Luật đầu tƣ năm 2014: “Khu kinh tế là khu vực có ranh giới địa lý xác định, gồm nhiều khu chức năng, đƣợc thành lập để thực hiện các mục tiêu thu hút đầu tƣ, phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ quốc phòng, an ninh”.2 ] Theo Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 3 năm 2008 của Chính phủ “Khu kinh tế là khu vực có không gian kinh tế riêng biệt với môi trƣờng đầu tƣ và kinh doanh đặc biệt thuận lợi cho các nhà đầu tƣ, có ranh giới địa lý xác định, đƣợc thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định này”.2] Hiện nay, có nhiều mô hình khác nhau về KKT nhƣ khu kinh tế mở, đặc khu kinh tế, khu kinh tế tự do… nhƣng đều đƣợc hiểu là một khu vực riêng biệt mà ở đó đƣợc áp dụng những thể chế hành chính và kinh tế đặc biệt nhƣ miễn giảm các loại thuế, nới lỏng các quy tắc thuế quan và ngoại hối … Mục đích xây dựng loại hình này nhằm đ y mạnh phát triển kinh tế - xã hội, thúc đ y quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc, trong đó ƣu tiên đ y mạnh xuất kh u. Mặt khác, đây chính là cửa ngõ thúc đ y mối giao lƣu quốc tế, thúc đ y hội nhập kinh tế quốc tế. Khái niệm Ban Quản lý Khu kinh tế Căn cứ Điều 36 tại Nghị định 29, chức năng của Ban Quản lý Khu kinh tế nhƣ sau: “Ban Quản lý là cơ quan trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nƣớc trực tiếp đối với khu công nghiệp, khu kinh tế trên địa bàn tỉnh hoặc thành phố trực thuộc Trung ƣơng theo quy định tại Nghị định này và pháp luật có liên quan; quản lý và tổ chức thực hiện chức năng cung ứng dịch vụ hành chính công và dịch vụ hỗ trợ khác có liên quan đến hoạt động đầu tƣ và sản xuất kinh doanh cho nhà đầu tƣ trong khu công nghiệp, khu kinh tế. Ban Quản lý do Thủ tƣớng Chính phủ quyết định thành lập và chịu sự chỉ đạo và quản lý về tổ chức, biên chế, chƣơng trình kế hoạch công tác và kinh phí hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (trừ trƣờng hợp Thủ tƣớng Chính phủ có quy định khác); chịu sự chỉ đạo, hƣớng dẫn và kiểm tra về chuyên môn nghiệp vụ của các Bộ, ngành quản lý về ngành, lĩnh vực có liên quan; có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong công tác quản lý khu công nghiệp, khu kinh tế.
Ban Quản lý có tƣ cách pháp nhân; tài khoản và con dấu mang hình quốc huy; kinh phí quản lý hành chính nhà nƣớc, kinh phí hoạt động sự nghiệp và vốn đầu tƣ phát triển do ngân sách nhà nƣớc cấp theo kế hoạch hàng năm. Nhân sự và công tác quản trị nhân sự tại Ban Quản lý Khu kinh tế 1. Nhân sự tại Ban Quản lý Khu kinh tế Căn cứ Điều 39 tại Nghị định 29, cơ cấu và biên chế (còn gọi là nhân sự) của Ban Quản lý Khu kinh tế bao gồm: “Ban Quản lý gồm Trƣởng ban, một số Phó Trƣởng ban và bộ máy giúp việc. Trƣởng ban do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm, miễn nhiệm.
Phó Trƣởng ban do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm, miễn nhiệm theo đề nghị của Trƣởng ban. 7 Trƣởng ban có trách nhiệm điều hành mọi hoạt động của Ban quản lý, chịu trách nhiệm trƣớc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và pháp luật về hoạt động và hiệu quả hoạt động của khu công nghiệp, khu kinh tế. Cơ cấu tổ chức của Ban Quản lý bao gồm: bộ máy giúp việc (Văn phòng, các phòng chuyên môn, nghiệp vụ và đại diện Ban Quản lý tại khu công nghiệp, khu kinh tế); các đơn vị sự nghiệp trực thuộc thực hiện nhiệm vụ công ích, công cộng, dịch vụ hỗ trợ đầu tƣ, kinh doanh cho nhà đầu tƣ trong khu và các tổ chức khác phù hợp với tình hình phát triển khu công nghiệp, khu kinh tế và nhiệm vụ, quyền hạn của từng loại Ban Quản lý theo quy định hƣớng dẫn của Bộ Nội vụ và quy định của pháp luật. Ban Quản lý khu kinh tế và Ban Quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất xếp hạng I theo hƣớng dẫn của Bộ Nội vụ đƣợc phép thành lập Thanh tra.
Biên chế của Ban Quản lý bao gồm biên chế hành chính, biên chế sự nghiệp và do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định theo quy định của pháp luật về phân cấp quản lý biên chế hành chính, sự nghiệp và cơ chế quản lý biên chế đối với đơn vị sự nghiệp của nhà nƣớc.28] Nhƣ vậy nhân sự của Ban Quản lý Khu kinh tế nói chung là cán bộ, công chức thuộc biên chế quản lý hành chính công và đội ngũ chức nghiệp thuộc biên chế đơn vị sự nghiệp công lập. Đƣợc tuyển dụng hoặc bổ nhiệm vào làm việc trong cơ quan Ban Quản lý Khu kinh tế ở địa phƣơng, giữ một công việc thƣờng xuyên ở một ngạch trong hệ thống ngạch bậc và đƣợc hƣởng lƣơng do ngân sách nhà nƣớc cấp. Đây là một bộ phận quan trọng trong đội ngũ công chức, là chủ thể của bộ máy hành chính Nhà nƣớc, đƣợc đào tạo, bổ nhiệm theo một hệ thống riêng và mang tính ổn định; thực hiện chức năng quản lý nhà nƣớc, bảo đảm quyền thực thi quyền lực hành chính của Nhà nƣớc đối với xã hội. Có vai trò quyết định trong tổ chức quá trình ra quyết định, quản lý và hƣớng dẫn, tổ chức thực hiện các chính sách, quyết định của nhà nƣớc.
Công tác quản trị nhân sự tại Ban Quản lý Khu kinh tế Hội nhập kinh tế đòi hỏi phải nỗ lực tinh giảm bộ máy chính quyền qua những cải cách về phi quy chế hóa, giảm các dịch vụ cũng nhƣ áp dụng công nghệ thông tin trong nền hành chính công (còn gọi là cơ quan quản lý nhà nước). Trong đó, quản trị nhân sự các cơ quan quản lý nhà nƣớc có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự thành bại của cơ quan đó. Ở nƣớc ta hiện nay nói chung và tại các Ban Quản lý Khu kinh tế nói riêng chƣa xây dựng đƣợc đồng bộ hệ thống bảng mô tả công việc phù hợp với từng vị trí công việc, thiếu chính sách trọng dụng nhân tài, chế độ đãi ngộ cho nguồn nhân lực hợp lý. Do đó, khu vực hành chính công cần chuyển từ mô hình hành chính công truyền thống sang mô hình quản trị công mới.
Quản trị nhân sự trong Ban Quản lý Khu kinh tế có nhiệm vụ quy hoạch, tuyển chọn, đào tạo, huấn luyện và phát triển nhân sự, bố trí sử dụng, kiểm tra, giám sát… Thực tiễn đã chứng minh, quản lý nhân sự trong Ban Quản ký Khu kinh tế có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự thành bại của quốc gia nói chung, của Ban Quản lý Khu kinh tế nói riêng. Trên thực tế, công tác quản trị nguồn nhân lực trong Ban Quản lý Khu kinh tế hiện nay vẫn còn gặp rất nhiều thách thức, trong đó thách thức lớn nhất không phải là thiếu vốn hay trình độ kỹ thuật mà là làm thế nào để quản trị nguồn nhân lực có hiệu quả. Mục tiêu quản trị nhân sự tại Ban Quản lý Khu kinh tế Mục tiêu chung của quản trị nhân sự tại BQL Khu kinh tế là cung cấp cho BQL một lực lƣợng lao động có hiệu quả. Nhất là trong điều kiện thực hiện quyết liệt tinh giảm biên chế nhƣng vẫn đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay.
Ngoài ra việc quản trị nhân sự còn đáp ứng các mục tiêu sau: - Sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực nhằm tăng năng suất lao động và nâng cao tính hiệu quả thực hiện công việc của tổ chức. 9 - Đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân viên, tạo điều kiện cho nhân viên phát huy tối đa các năng lực cá nhân, đƣợc kích thích, động viên nhiều nhất tại nơi làm việc và trung thành, tận tụy với cơ quan, tổ chức. Các tiêu chí đánh giá công tác quản trị nhân sự tại Ban Quản lý Khu kinh tế 1. Công tác quy hoạch nhân sự Quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý (gọi chung là nhân sự) là công tác phát hiện sớm nguồn nhân sự trẻ có đức, có tài, có triển vọng về khả năng lãnh đạo, quản lý, đƣa vào quy hoạch để có kế hoạch đào tạo, bồi dƣỡng, tạo nguồn các chức danh lãnh đạo, quản lý, đáp ứng nhiệm vụ chính trị trƣớc mắt và lâu dài của từng địa phƣơng, cơ quan, đơn vị và của đất nƣớc.
Với vai trò quan trọng nhƣ vậy, công tác quy hoạch nhân sự luôn đƣợc coi là khâu quan trọng, then chốt nhằm tạo sự chủ động, khoa học trong công tác cán bộ của Ban Quản lý Khu kinh tế. * Cần đánh giá đúng nhân sự trước khi đưa vào quy hoạch Cần phải đánh giá đúng nhân sự trƣớc khi đƣa vào quy hoạch. Hƣớng dẫn này đã cụ thể hóa các tiêu chí đánh giá nhân sự đƣợc quy hoạch, bao gồm: Ph m chất chính trị, đạo đức, lối sống, Năng lực thực tiễn, Uy tín, Sức khỏe, Chiều hƣớng và triển vọng phát triển.