phần Mở đầu và Kết luận, luận văn được trình bày thành 4 chương. Cụ thể như sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thuế giá trị gia tăng; Chƣơng 2: Phương pháp nghiên cứu; Chƣơng 3: Thực trạng công tác quản lý thuế GTGT đối với các doanh nghiệp tại Chi cục thuế Thị xã Từ Sơn; Chƣơng 4: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế GTGT đối với các doanh nghiệp tại Chi cục thuế Thị xã Từ Sơn. 4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thuế GTGT 1.
Khái niệm và đặc điểm của thuế GTGT Thuế GTGT, thuật ngữ tiếng Anh gọi tắt là VAT (Value Added Tax), là một dạng của thuế bán hàng. Tại một số quốc gia như Australia, Canada, New Zealand, Singapore thì thuế này được gọi là "Goods and services tax" (viết tắt GST) nghĩa là thuế hàng hóa và dịch vụ. Thuế GTGT là một loại thuế gián thu, được đánh vào người tiêu dùng cuối cùng, mặc dù chủ thể đem nộp nó cho cơ quan quản lý thuế của nhà nước là những người bán hàng hóa, dịch vụ. Thuế GTGT có nguồn gốc từ thuế doanh thu.
Năm 1918 người đầu tiên nghĩ ra thuế này là một người Đức tên là CARL FRIEDRICH VON SIEMENS. Mặc dù vậy, ông không thuyết phục được Chính phủ Đức áp dụng vào thời bấy giờ. Nước đầu tiên trên thế giới áp dụng thuế GTGT là Pháp, bắt đầu áp dụng thí điểm trong một số ngành cá biệt từ 01/07/1954 và đến 01/01/1968 đưa vào áp dụng chính thức. Ngay từ những năm đầu thuế GTGT được áp dụng ở Pháp đã đáp ứng được hai mục tiêu cơ bản là đảm bảo số thu kịp thời vào NSNN và khắc phục tình trạng trùng lắp của thuế doanh thu trước đây.
Do có những ưu việt nổi trội, nên ngày càng có nhiều nước trên thế giới đưa thuế GTGT vào áp dụng. Người tiêu dùng cuối cùng của sản phẩm hàng hóa và dịch vụ thường không được hoàn lại thuế GTGT khi mua hàng (trừ những trường hợp đặc biệt), nhưng các doanh nghiệp thì có thể được hoàn lại thuế GTGT đối với nguyên vật liệu và dịch vụ mà họ mua để tạo ra các sản phẩm hay dịch vụ tiếp theo để trực tiếp hay gián tiếp bán cho người tiêu dùng cuối cùng. Theo cách này, tổng số thuế phải thu ở mỗi công đoạn trong dây chuyền kinh tế là một tỷ 5 lệ cố định đối với phần GTGT được công đoạn kinh doanh đó thêm vào trong sản phẩm. Hiện nay, khái niệm thuế GTGT có nhiều cách tiếp cận khác nhau, mỗi khái niệm đưa ra đều được nhìn nhận trên một góc độ, một khía cạnh nào đó của thuế GTGT.
Theo Điều 2 Luật thuế giá trị gia tăng năm 2008 của Việt Nam thì “Thuế GTGT là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.” Nhìn chung có thể hiểu: “Thuế GTGT là sắc thuế đánh trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh ở từng khâu trong quá trình luân chuyển từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng” [18, tr43]. Từ cách hiểu như trên, thuế GTGT có các đặc điểm chủ yếu sau đây: Thuế GTGT là sắc thuế thuộc loại thuế gián thu. Đây là sắc thuế có cơ sở tính thuế là phần thu nhập đem tiêu dùng trong hiện tại của người tiêu dùng. Xét dưới góc độ pháp lý, thuế gián thu là thuế mà người chịu thuế và người nộp thuế không cùng là một, người nộp thuế là người bán hàng hóa, dịch vụ, còn người chịu thuế là người tiêu dùng cuối cùng.
Chẳng hạn, chính quyền đánh thuế vào công ty (công ty nộp thuế) và công ty lại chuyển thuế này vào chi phí tính vào giá hàng hóa và dịch vụ, do vậy đối tượng chịu thuế là người tiêu dùng cuối cùng. Ví dụ: thuế GTGT, thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt. được thu từ nhà sản xuất, người bán hàng với kỳ vọng chúng sẽ được chuyển sang cho người tiêu dùng. Nói cách khác, Nhà nước gián tiếp thu khoản thuế này của người tiêu dùng thông qua người bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ.
Thuế GTGT có phạm vi điều chỉnh rất rộng, áp dụng cho hầu hết các hàng hóa, dịch vụ sử dụng trong sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng trong tất cả các ngành nghề, ở tất cả các giai đoạn. Thuế GTGT có tính lũy thoái so với thu nhập. Thuế GTGT đánh vào hàng hóa, dịch vụ. Người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ là người thực sự phải 6 trả khoản thuế đó, không phân biệt thu nhập cao hay thấp đều phải trả số thuế như nhau do số thuế phải trả được tính trên giá bán của hàng hóa, dịch vụ chứ không tính trên thu nhập của người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ.
Như vậy, nếu so sánh giữa số thuế phải trả so với thu nhập thì người nào có thu nhập cao hơn thì tỉ lệ thấp hơn và ngược lại. Thuế GTGT là sắc thuế tiêu dùng nhiều giai đoạn không trùng lắp. Thuế GTGT đánh vào tất cả các giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh nhưng chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm của mỗi giai đoạn. Tổng số thuế thu được của tất cả các giai đoạn đúng bằng số thuế tính trên giá bán của người tiêu dùng cuối cùng.
Thuế GTGT có tính trung lập về kinh tế cao. Thuế GTGT không phải là yếu tố chi phí mà đơn thuần là yếu tố cộng thêm ngoài giá bán của người cung cấp hàng hóa, dịch vụ. Thuế GTGT không bị ảnh hưởng trực tiếp bởi kết quả kinh doanh của người nộp thuế, bởi quá trình tổ chức và phân chia các chu trình kinh tế, sản phẩm được luân chuyển qua nhiều hay ít giai đoạn thì tổng số thuế GTGT phải nộp của tất cả các giai đoạn không thay đổi. Thuế GTGT thường được đánh theo nguyên tắc “điểm đến”, quyền đánh thuế thuộc về quốc gia nơi hàng hóa, dịch vụ được tiêu dùng, bất kể nó được sản xuất ở đâu.
Vai trò của thuế GTGT Trong nền kinh tế hiện đại, thuế không chỉ là công cụ thu ngân sách mà còn là công cụ quan trọng của Nhà nước để quản lý, kiểm soát, điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Nó ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động của hệ thống bộ máy quản lý Nhà nước. Nhà nước sử dụng thuế nhằm hướng dẫn, điều tiết các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng, thực hiện chính sách phân phối và phân phối lại, điều tiết thu nhập, giải quyết công bằng an sinh xã hội,. Trong đó, thuế GTGT là một khoản thu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số thu ngân sách của Nhà nước, do đó thuế GTGT có vai trò rất to lớn, tác động đến mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội.
Cụ thể là: 7 Thuế GTGT là nguồn thu quan trọng của NSNN: Thuế GTGT là công cụ tập trung, huy động đầy đủ, kịp thời nguồn thu cho NSNN. Thuế GTGT tập trng thu ngay từ khâu đầu (sản xuất hoặc nhập khẩu), nên đảm bảo nguồn thu cho NSNN, hạn chế thất thu. Thuế GTGT được tính và thu từng khâu, từng giai đoạn của quá trình sản xuất, kinh doanh nên làm tăng nguồn thu và đảm bảo huy động kịp thời NSNN. Việc khấu trừ thuế GTGT được thực hiện căn cứ trên hóa đơn mua hàng đã thúc đẩy người mua phải đòi hỏi người bán xuất hóa đơn, ghi đúng doanh thu với giá trị của hoạt động mua bán, góp phần khắc phục được tình trạng thông đồng giữa người mua và người bán để trốn, gian lận thuế, gây thất thu cho NSNN.
Thuế GTGT là công cụ điều tiết vĩ mô và vi mô: Thuế GTGT điều tiết sản xuất và tiêu dùng. Luật thuế GTGT của mỗi nước thường quy định đánh thuế hoặc không đánh thuế, đánh thuế với thuế suất cao hay thấp vào các mặt hàng cụ thể, thông qua đó mà tác động và làm thay đổi mối quan hệ giữa cung và cầu trên thị trường, tác động tới việc lựa chọn những hàng hóa, dịch vụ để sản xuất kinh doanh và tiêu dùng, nhằm góp phần thực tế điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Thuế GTGT khuyến khích hoạt động mở rộng đầu tư sản xuất. Trong hoạt động đầu tư tài sản cố định, toàn bộ số thuế GTGT mà doanh nghiệp phải trả khi mua sắm tài sản cố định sẽ được Nhà nước cho khấu trừ hoặc hoàn lại.
Còn khi nhập khẩu máy móc thiết bị, phương tiện vận tải chuyên dùng nằm trong dây chuyền công nghệ và vật tư xây dựng thuộc loại trong nước chưa sản xuất được cần nhập khẩu để tạo tài sản cố định cho doanh nghiệp thì doanh nghiệp cũng không phải nộp thuế GTGT. Đồng thời việc thuế GTGT không đánh vào vốn đầu tư đã làm cho giá thành các công trình đầu tư đã làm cho giá thành các công trình đầu tư trong nước giảm rất nhiều. Do đó, thuế GTGT đã góp phần khuyến khích đầu tư đổi mới công nghệ, thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh và lưu thông hàng hóa. 8 Thuế GTGT góp phần khuyến khích xuất khẩu.
Hàng hóa xuất khẩu được áp dụng thuế suất thuế GTGT là 0%, số thuế GTGT đầu vào mà doanh nghiệp đã nộp thì sẽ được Nhà nước cho khấu trừ hoặc hoàn lại, vì vậy nó là động lực khuyến khích sản xuất các mặt hàng xuất khẩu, tăng cường sự hợp tác thương mại giữa các nước trên thế giới. Thuế GTGT tạo điều kiện cho hàng hóa xuất khẩu có thể cạnh tranh dễ dàng hơn trên thị trường quốc tế do được hoàn thuế nên doanh nghiệp có thể bán ra nước ngoài với giá thấp hơn nhờ đó có lợi thế trong cạnh tranh về giá. Từ đó, giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, góp phần giải quyết việc làm cho xã hội. Thuế GTGT khuyến khích tăng hiệu quả sản xuất.
Trong nền kinh tế thị trường, giá cả hàng hóa được bán ra phụ thuộc rất nhiều yếu tố cung cầu, nó phải được người tiêu dùng chấp nhận, người sản xuất khó có thể thay đổi giá cả theo ý mình. Do đó, việc Nhà nước đánh thuế sẽ làm giảm doanh thu thuần của doanh nghiệp nếu doanh nghiệp không cố gắng nâng cao hiệu quả sản xuất để giảm bớt chi phí. Điều đó đã thúc đẩy các doanh nghiệp phải luôn cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất, thúc đẩy nền sản xuất phát triển. Thuế GTGT thúc đẩy các doanh nghiệp thực hiện chế độ hạch toán, kế toán, phát triển quan hệ thanh toán.