Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý thuế TNDN. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng công tác quản lý thuế TNDN nhỏ và vừa tại Chi cục thuế thành phố Bắc Ninh. Chương 4: Giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế TNDN nhỏ và vừa tại Chi cục thuế thành phố Bắc Ninh.
Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản về thuế và quản lý thuế 1. Khái niệm, đặc điểm, chức năng của thuế và quản lý thuế 1.1 Khái niệm, đặc điểm, chức năng của thuế * Khái niệm Thuế là một khoản nộp bắt buộc mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ phải thực hiện đối với Nhà nƣớc, phát sinh trên cơ sở các văn bản pháp luật do Nhà nƣớc ban hành, không mang tính chất đối giá và hoàn trả trực tiếp cho đối tƣợng nộp thuế. Thuế không phải là một hiện tƣợng tự nhiên mà là một hiện tƣợng xã hội do chính con ngƣời định ra và nó gắn liền với phạm trù Nhà nƣớc và pháp luật (Nguyễn Thị Bất, 2002).
Sự ra đời và tồn tại của thuế gắn liền với sự phân chia xã hội thành các giai cấp đối kháng và sự xuất hiện của Nhà nƣớc - pháp luật. Thuế là một thực thể pháp lý nhân định nhƣng sự ra đời và tồn tại của nó không chỉ phụ thuộc vào ý chí con ngƣời mà còn phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế - xã hội của từng thời kỳ lịch sử nhất định. Sự xuất hiện Nhà nƣớc đòi hỏi cần phải có của cải vật chất cần thiết chi cho hoạt động thƣờng xuyên của bộ máy Nhà nƣớc nhằm đảm bảo cho Nhà nƣớc tồn tại, duy trì quyền lực và thực hiện chức năng quản lý xã hội của mình. Trong điều kiện có các giai cấp, tồn tại chế độ tƣ hữu cùng với phạm vi hoạt động của Nhà nƣớc ngày càng mở rộng thì chế độ đóng góp theo phƣơng thức tự nguyện của dân cƣ trong chế độ cộng sản nguyên thủy không còn phù hợp nữa.
Ðể có đƣợc lƣợng của cải cần thiết, Nhà nƣớc đã sử dụng quyền lực của mình ban hành pháp luật, ấn định bắt buộc các thể nhân và pháp nhân phải đóng góp cho Nhà nƣớc một phần của cải mà họ làm ra và hình thành quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nƣớc. Ban đầu những của cải vật chất này đƣợc thu nộp dƣới hình thức hiện vật, dần dần thuế đƣợc chuyển sang hình thức tiền tệ. Ðồng Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 thời với việc ấn định nghĩa vụ thu nộp của cải vật chất đối với dân cƣ, Nhà nƣớc đảm bảo việc thực hiện các nghĩa vụ đó bằng bộ máy cƣỡng chế của Nhà nƣớc. Sự xuất hiện sản phẩm thặng dƣ trong xã hội là cơ sở chủ yếu để thuế tồn tại và phát triển.
Nhƣ vậy, thuế là phạm trù có tính lịch sử và là một tất yếu khách quan, thuế ra đời xuất phát từ nhu cầu đáp ứng chức năng của Nhà nƣớc và sự tồn tại của thuế không tách rời quyền lực Nhà nƣớc. Tóm lại, quá trình phát triển của nhà nƣớc và thuế cho thấy, thuế và Nhà nƣớc là hai phạm trù gắn bó hữu cơ với nhau. Nhà nƣớc tồn tại tất yếu phải có thuế. Thuế là cơ sở vật chất đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của Nhà nƣớc.
* Đặc điểm của thuế Ra đời và tồn tại cùng với Nhà nƣớc, từ đó đến nay, thuế đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài. Với mỗi cách tiếp cận khác nhau, các nhà nghiên cứu sẽ đƣa ra khái niệm riêng phục vụ cho mục đích nghiên cứu của mình về thuế. Vì vậy, đã có rất nhiều khái niệm về thuế khác nhau. Tuy nhiên, thuế sẽ phải có những đặc tính nhất định để phân biệt với các khoản phí, lệ phí và các khoản đóng góp tự nguyện khác, để hiểu rõ bản chất của thuế, khi nghiên cứu chúng ta cùng làm rõ các đặc điểm của thuế (Nguyễn Thị Cúc, 2008) Thứ nhất: thuế là khoản thu nộp bắt buộc vào ngân sách.
Vì không ai tự nguyện từ bỏ quyền lợi của mình để nộp thuế cho nhà nƣớc. Hơn nữa, để nhà nƣớc tồn tại, nguồn thu từ thuế phải thƣờng xuyên và ổn định. Nếu tự nguyện nộp thì không thể thƣờng xuyên và ổn định đƣợc. Tính bắt buộc đƣợc thể hiện dƣới 2 khía cạnh sau: Đối với các cơ quan thu thuế: Thu thuế là nghĩa vụ bắt buộc đối với cán bộ, cơ quan thu thuế.
Cán bộ cơ quan thu thuế không đƣợc quyền lựa chọn đối tƣợng nộp thuế, đối tƣợng chịu thuế, căn cứ tính thuế… Khoản 1 Điều 8 Luật Quản lý Thuế quy định: Trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế là “Tổ chức thực hiện thu thuế theo quy định của pháp luật”, lấy pháp luật làm căn cứ duy nhất để thực hiện. Đối với ngƣời nộp thuế: Đây là nghĩa vụ chuyển giao tài sản của họ cho nhà nƣớc khi có đủ điệu kiện do pháp luật thuế quy định mà không phải quan hệ thanh Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 toán trong hợp đồng hay ngoài hợp đồng. Dù đƣợc thực hiện dƣới hình thức nào, thuế vẫn thể hiện tính chất bắt buộc, đối tƣợng nộp thuế không có quyền trốn thuế hoặc mong muốn tự mình ấn định hay thoả thuận mức đóng góp của mình mà chỉ có quyền chấp thuận. Những đối tƣợng nộp thuế vi phạm luật sẽ bị cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền xử lý vi phạm hoặc cƣỡng chế thi hành theo quy định của pháp luật để buộc họ phải làm tròn nghĩa vụ nộp thuế.
Đây là điểm khác biệt giữa thuế với các khoản đóng góp mang tính chất tự nguyện. Thứ hai: Thuế tuy là biện pháp tài chính của Nhà nƣớc mang tính bắt buộc, song sự bắt buộc đó luôn luôn đƣợc xác lập trên nền tảng kinh tế-xã hội của ngƣời làm nhiệm vụ đóng thuế, do đó thuế bao giờ cũng chứa đựng các yếu tố kinh tế xã hội. + Yếu tố kinh tế thể hiện: Hệ thống thuế trƣớc hết phải kể đến thu nhập bình quân đầu ngƣời của một quốc gia, cơ cấu kinh tế, thực tiễn vận động của cơ cấu kinh tế đó, cũng nhƣ chính sách, cơ chế quản lý của nhà nƣớc. Cùng với yếu tố đó còn phải kể đến phạm vi, mức độ chi tiêu của nhà nƣớc nhằm thực hiện các chức năng kinh tế của mình.
+ Yếu tố xã hội thể hiện: Hệ thống thuế phải dựa trên phong tục, tập quán của quốc gia, kết cấu giai cấp cũng nhƣ đời sống thực tế của các thành viên trong từng giai đoạn lịch sử. Mặt khác thuế còn thực hiện phân phối lại thu nhập xã hội đảm bảo công bằng xã hội. Nhƣ vậy mức động viên qua thuế trong GDP của một quốc gia phụ thuộc vào nhu cầu chi tiêu của nhà nƣớc và các vấn đề kinh tế, xã hội của quốc gia đó. Thứ ba: Thuế là một khoản đóng góp không mang tính chất hoàn trả trực tiếp.
Nghĩa là khoản đóng góp của công dân bằng hình thức thuế không đòi hỏi phải hoàn trả đúng bằng số lƣợng và khoản thu mà nhà nƣớc thu từ công dân đó nhƣ là một khoản vay mƣợn. Nó sẽ đƣợc hoàn trả lại cho ngƣời nộp thuế thông qua cơ chế đầu tƣ của ngân sách nhà nƣớc cho việc sản xuất và cung cấp hàng hoá công cộng. Đặc điểm này làm nổi rõ sự khác nhau giữa thuế và lệ phí. Lệ phí đƣợc coi là một khoản đối giá giữa nhà nƣớc với công dân, khi công dân thừa hƣởng những dịch vụ công cộng do nhà nƣớc cung cấp phải trả một phần thu nhập của mình cho Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 nhà nƣớc.
Tuy nhiên việc trao đổi này thƣờng không tuân thủ theo hình thức trao đổi ngang giá dựa trên quy luật của thị trƣờng. Tóm lại, thuế là một biện pháp kinh tế của mọi nhà nƣớc, nó đƣợc thực thi khi hoạt động kinh tế tạo ra thu nhập hoặc sử dụng nguồn thu nhập tạo ra. Đặc biệt, trong nền kinh tế thị trƣờng vai trò của nhà nƣớc ngày càng trở nên quan trọng thì vai trò của thuế cũng chiếm vị trí không thể thiếu đƣợc trong công tác quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. * Chức năng của thuế Thuế có chức năng bảo đảm nguồn thu cho NSNN nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nƣớc; chức năng phân phối lại thu nhập và tài sản nhằm đảm bảo công bằng xã hội và chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Một là: Chức năng đảm bảo nguồn thu cho NSNN Mức độ động viên các nguồn thu từ thuế vào ngân sách phần lớn, gắn liền với tổng số chi tiêu của của nhà nƣớc vì các khoản thu này là nguồn bù đắp chủ yếu cho các khoản chi ngân sách. Nhƣng các khoản thu này cũng không phải là nguồn bù đắp duy nhất mà bên cạnh đó, thâm hụt ngân sách còn đƣợc bù đắp bằng nguồn vay hoặc phát hành tiền tệ. Mức độ động viên thu ngân sách với tỷ lệ giữa thâm hụt ngân sách trên tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của mỗi nƣớc cho thấy mức độ huy động của Nhà nƣớc để bù đắp cho các khoản chi này (tất nhiên kể cả khoản lãi phải trả khi hoàn trả nợ). Hai là: Chức năng phân phối lại nhằm đảm bảo công bằng xã hội Về nguyên tắc, gánh nặng về thuế phải đƣợc phân chia một cách công bằng; thuế phải có vai trò sửa chữa những khiếm khuyết của sự phân phối lần đầu để đảm bảo sự công bằng và bình đẳng.
Tuy nhiên, sự công bằng chỉ mang tính chất tƣơng đối và tuỳ thuộc vào quan niệm cho rằng sự phân phối phải công bằng hay không trong việc phân chia quyền sở hữu diễn ra trên thị trƣờng. Chính vì vậy, đánh thuế luỹ tiến, đối với một số ngƣời, có thể đƣợc coi nhƣ đồng nghĩa với sự công bằng, với một số ngƣời khác, lại bị coi là tuỳ tiện. Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Ba là: Chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế hay khắc phục những bất cân bằng của thị trƣờng Thuế là một công cụ của chính sách kinh tế có thể đóng vai trò khuyến khích, hạn chế hoặc ổn định kinh tế.