phần mở đầu , kết luận, kiến nghị và danh mục tài liệu tham khảo , luận văn đƣợc kết cấu theo 3 chƣơng: CHƢƠNG 1: Cơ sở lý luận về quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể. CHƢƠNG 2: Thực trạng công tác quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể trên đị a bàn huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai. CHƢƠNG 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể tại huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Thời gian qua, vấn đề quản lý thu thuế nói chung và quản lý thu thuế đối hộ kinh doanh cá thể nói riêng đƣợc nhiều nhà khoa học và các nhà quản lý quan tâm nghiên cứu.
Một số đề tài đã đi vào nghiên cứu xung quanh vấn đề quản lý thu thuế đối với KVKTNQD, dƣới đây là một số công trình tiêu biểu: 1.TS Lê Văn Ái (2000), Những vấn đề lý luận cơ bản về thuế trong nền kinh tế, NXB Tài chính, Hà Nội, 2. PTS Lê Văn Ái (1996), Thuế Nhà nước, NXB Tài chính, Hà Nội, 3. PTS Lê Văn Ái (1996), Thuế Nhà nước, NXB Tài chính, Hà Nội. Luan van 4 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ 1.
TỔNG QUAN VỀ THUẾ ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ 1. Khái niệm, bản chất, chƣ́c năng, vai trò của thuế a. Khái niệm về thuế Thuế là một phạm trù kinh tế tài chính mang tính khách quan, đồng thời cung là phạm tù lịch sử, thuế ra đời từ khi hình thành nhà nƣớc. Nó tồn tại cùng với sự phát triển của nhà nƣớc.
Trong lịch sử phát của xã hội loài ngƣời, nhà nƣớc xuất hiện khi xã hội có sự phân chia giai cấp, để duy trì bộ máy hoạt động của mình nhƣ: an ninh, quốc phòng, cho hoạt động bộ máy nhà nƣớc, sự nghiệp giáo dục, y tế…và các phúc lợi công cộng khác đòi hởi nhà nƣớc phải có nguồn tài chính để chi trả. Nguồn tài chính này có đƣợc là do sự đóng góp của mọi thành viên trong xã hội và sự đóng góp mang tính bắt buộc. Trên các sách báo kinh tế thế giới, cho đến nay vẫn chƣa có sự thống nhất tuyệt đối khái niệm về thuế. Nhìn chung các quan điểm của các nhà kinh tế đƣa ra mới nhìn nhận từ những khía cạnh khác nhau của thuế, do đó chƣa phản ánh đủ bản chất chung nhất của phạm trù này.
Chẳng hạn, theo các nhà kinh điển thì thuế đƣợc quan niệm rất đơn giản: “Thuế khóa là cái vú sữa của Chính phủ”. Ăngghen: Để duy trì quyền lực công cộng cần phải có sự đóng góp của những ngƣời công dân cho nhà nƣớc đó là thuế má. Mác - Ăng-ghen cho rằng để thực hiện quyền lực công cộng cần phải có sự đóng góp của các công dân cho nhà nƣớc, khoản đóng góp đó gọi là thuế. Trong cuốn từ điển của hai tác giả ngƣời Anh Chrisopher Pass và Bryan Lowes cho rằng: “Thuế là một biện pháp của Chính phủ đánh trên thu nhập của cải và vốn nhận đƣợc của các cá nhân hay doanh nghiệp (thuế trực thu), trên việc chi tiêu về hàng hoá và dịch vụ (thuế gián thu) và trên tài sản”.
Luan van 5 Một định nghĩa về thuế tƣơng đối hoàn chỉnh đƣợc nêu lên trong cuốn sách Economics K.L Bryu - Moscow - 1993 của hai nhà kinh tế Mỹ K.Bryu nhƣ sau: “Thuế là một khoản chuyển giao bắt buộc bằng tiền (hoặc là chuyển giao bằng hàng hoá, dịch vụ) của các công ty và các hộ gia đình cho Chính phủ, mà trong sự trao đổi đó họ không nhận đƣợc một cách trực tiếp hàng hoá hoặc dịch vụ nào cả, khoản nộp đó không phải là tiền phạt mà toà án tuyên phạt do hành vi vi phạm pháp luật”. Trong giáo trình Thuế của Học viện Tài chính (nhà xuất bản Tài chính năm 2008). Theo đó, thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nƣớc theo mức độ và thời hạn đƣợc pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng. Bản chất của thuế Thuế là một công cụ tài chính của nhà nƣớc, đƣợc sử dụng để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung nhằm sử dụng cho mục đích công cộng.
Các khoản thu thuế đƣợc tập trung vào Ngân sách nhà nƣớc là những khoản thu nhập của nhà nƣớc đƣợc hình thành trong quá trình nhà nƣớc tham gia phân phối của cải xã hội dƣới hình thức giá trị. Bản chất của thuế đƣợc thể hiện bởi các thuộc tính bên trong, vốn có của thuế thông qua những đặc điểm để phân biệt thuế với các công cụ tài chính khác, cụ thể: - Một là, thuế là một khoản chuyển giao thu nhập của các tầng lớp trong xã hội cho nhà nước mang tính bắt buộc phi hình sự: Thuế là tiền đề cần thiết để duy trì quyền lực chính trị và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nƣớc. Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc gắn với quyền lực của nhà nƣớc, hành động đóng thuế cho nhà nƣớc là hành động thực hiện nghĩa vụ của ngƣời công dân. Tính bắt buộc là thuộc tính cơ bản vốn có của thuế, giúp phân biệt thuế với các hình thức động viên tài chính khác của NSNN nhƣ phí, lệ phí hay hình thức phạt bằng tiền.
Luan van 6 Tuy nhiên, tính bắt buộc của thuế không mang nội dung hình sự, nghĩa là việc đóng thuế cho nhà nƣớc không phải là kết quả nảy sinh từ hành vi vi phạm pháp luật mà là nghĩa vụ đóng góp đƣợc pháp luật thừa nhận và xã hội tôn vinh. - Hai là, thuế dựa vào thực trạng của nền kinh tế (GDP, chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá sản xuất, thu nhập, lãi suất, các yếu tố chính trị, xã hội…) trong thời kỳ nhất định: Các yếu tố tác động đến thuế thƣờng là mức độ tăng trƣởng của nền kinh tế quốc dân, thu nhập bình quân đầu ngƣời, giá cả, thị trƣờng, sự biến động của NSNN…Thông qua công cụ thuế của nhà nƣớc sẽ góp phần kích thích sản xuất phát triển thu hút sự đầu tƣ của các nhà sản xuất. Ngoài ra nhà nƣớc còn dùng NSNN đầu tƣ vào cơ sở hạ tầng tạo điều kiện và môi trƣờng thuận lợi cho các nhà đầu tƣ hoạt động. Các yếu tố chính trị, xã hội tác động đến thuế thƣờng là thể chế chính trị của nhà nƣớc; tâm lý, tập quán của các tầng lớp dân cƣ, truyền thống văn hóa, xã hội của dân tộc… - Ba là, thuế được thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả không trực tiếp là chủ yếu: Tính không hoàn trả trực tiếp của thuế đƣợc biểu hiện trên các mặt; Thứ nhất, sự chuyển giao thu nhập thông qua thuế không mang tính chất đối giá, nghĩa là mức thuế mà các tầng lớp xã hội chuyển giao cho nhà nƣớc không hoàn toàn dựa trên mức độ NNT thụ hƣởng những dịch vụ và hàng hóa công cộng do nhà nƣớc cung cấp.
NNT cũng không có quyền đòi hỏi nhà nƣớc phải cung cấp hàng hóa, dịch vụ công cộng trực tiếp cho mình mới phát sinh khoản chuyển giao thu nhập cho nhà nƣớc; Thứ hai, khoản chuyển giao thu nhập dƣới hình thức thuế hoàn trả không trực tiếp, có nghĩa là NNT suy cho cùng sẽ nhận đƣợc một phần các hàng hóa, dịch vụ công cộng mà nhà nƣớc cung cấp chung cho cả cộng đồng, giá trị Luan van 7 phần hàng hóa, dịch vụ đó không nhất thiết tƣơng đồng với khoản thuế mà họ nộp cho nhà nƣớc (khác nhau giữa thuế và các khoản phí, lệ phí). Nhà nƣớc thu thuế cũng là nhằm tạo ra một nguồn lực tập trung để duy trì quyền lực chính trị và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nƣớc và chi phát triển cơ sở hạ tầng, chi phúc lợi công cộng, chi văn hóa, giáo dục y tế, xã hội, an ninh, quốc phòng…Sự không hoàn trả trực tiếp đƣợc thể hiện cả trƣớc và sau khi thu đƣợc thuế vào NSNN. - Bốn là, thuế mang tính pháp lý cao: Hiến pháp nƣớc ta năm 1992, Điều 80 đã ghi rõ: “Công dân có nghĩa vụ đóng thuế và lao động công ích theo qui định pháp luật”. Quốc hội xác lập quyền thu thuế của Chính phủ bằng hệ thống Luật.
Những tiêu thức thƣờng đƣợc xác định trƣớc trong các Luật thuế là: đối tƣợng chịu thuế, đối tƣợng nộp thuế, mức thuế phải nộp, thời hạn nộp và các chế tài khác mang tính cƣỡng chế. - Năm là, các khoản chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế chỉ được giới hạn trong phạm vi biên giới quốc gia với quyền lực pháp lý của nhà nước đối với con người và tài sản. Chức năng của thuế Thuế là phạm trù kinh tế, tài chính, nó biểu hiện những thuộc tính vốn có của các quan hệ kinh tế, tài chính. Thuế có những đặc trƣng, hình thức vận động và các chức năng riêng của mình bắt nguồn từ tổng thể các mối quan hệ kinh tế, tài chính.
Thuế thực hiện hai chức năng: chức năng huy động nguồn lực tài chính cho nhà nƣớc và chức năng điều tiết nền kinh tế. Vai trò của thuế - Thuế là công cụ chủ yếu huy động tập trung nguồn lực cho nhà nước: Bất kỳ một chế độ nhà nƣớc nào muốn tồn tại và phát triển đều phải tạo cho mình một nền tài chính quốc gia vững chắc, mà trong đó nguồn tài chính chủ yếu đƣợc động viên từ thuế và phí từ nội bộ nền kinh tế quốc dân. Luan van 8 “Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN”. Ở nƣớc ta, từ khi Luật thuế ra đời, nguồn thu từ thuế ngày một tăng lên và chiếm tỷ trọng cao trong tổng thu NSNN.
Hiện nay, ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, thuế là nguồn thu chủ yếu và quan trọng nhất, tỷ trọng các khoản thu từ thuế thƣờng chiếm trên 80% tổng thu của ngân sách. Ở nƣớc ta hiện nay nếu không tính các khoản thu từ dầu thô, nguồn thu từ thuế thƣờng chiếm trên 90% tổng các khoản thu của NSNN. Đây là nguồn thu ổn định nhất, đƣợc kế hoạch hóa trên cơ sở tiềm năng và kế hoạch phát triển kinh tế của đất nƣớc. Vai trò của thuế thực sự đƣợc nâng lên và thể hiện rõ trong quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần có sự quản lý và điều tiết của nhà nƣớc, thuế đƣợc áp dụng thống nhất đối với các thành phần kinh tế, không phân biệt kinh tế nhà nƣớc hay KVKTNQD, nó bao quát và điều tiết các hoạt động kinh doanh, mọi nguồn thu nhập, mọi tài nguyên thiên nhiên cũng nhƣ mọi hoạt động tiêu dùng trong xã hội.