lời mở đầu và phần kết luận, luận văn bao gồm 3 Chƣơng. 4 Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thu BHXH. Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản lý thu BHXH tại BHXH thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị. Chƣơng 3: Định hƣớng và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu BHXH tại BHXH thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị.
5 P ẦN NỘ DUNG VÀ ẾT QUẢ NG N CỨU C ƢƠNG 1 CƠ SỞ UẬN VÀ T ỰC T ỄN VỀ QUẢN T U BẢO ỂM XÃ Ộ 1. N ỮNG UẬN CƠ BẢN VỀ BẢO ỂM XÃ Ộ 1. Bảo hiểm và sự cần thiết khách quan của bảo hiểm 1. Rủi ro và bảo hiểm Trong cuộc sống có rất nhiều rủi ro có thể xẩy ra đối với chúng ta, gây nên những tổn thất về tài sản và con ngƣời, cho dù chúng ta đã luôn chú ý để phòng tránh.
Để đối phó với rủi ro chúng ta đã có nhiều biện pháp nhằm kiểm soát cũng nhƣ hạn chế hậu quả của rủi ro gây ra. Hiện nay theo quan điểm của các chuyên gia về quản lý rủi ro thì có hai biện pháp để đối phó với rủi ro đó là: Nhóm các biện pháp kiểm soát rủi ro và nhóm các biện pháp tài trợ rủi ro. Né tránh rủi ro: Là biện pháp chúng ta thƣờng xuyên sử dụng để trong cuộc sống để tránh rủi ro xẩy ra với chúng ta, tức là loại trừ cơ hội dẫn đến tổn thất …Tuy nhiên trong cuộc sống có những rủi ro bất ngờ mà chúng ta không thể né tránh đƣợc. Ngăn ngừa tổn thất: Là các biện pháp để chúng ta đua ra các hành động nhằm giảm tổn thất hoặc giảm mức thiệt hại do tổn thất gây ra.
Giảm thiểu tổn thất: Là biện pháp làm giảm giá trị thiệt hại khi tổn thất, xẩy ra. Ví dự nhƣ khi hỏa hoạn chúng ta thƣờng cố gắng cứu các tài sản còn dùng đƣợc, hay trong tai nạn giao thông chúng ta đƣa ngay ngƣời bị thƣơng đi cấp cứu. + Các biện pháp trên rất có hiệu quả trong việc ngăn chặn hoặc giảm thiểu rủi ro nhƣng khi rủi ro đã xẩy ra chúng ta không lƣờng hết hậu quả. + Chấp nhận rủi ro: Đây là hình thức mà ngƣời gặp rủi ro tự chấp nhận rủi ro và tự bảo hiểm.
Có rất nhiều cách thức khác nhau để chấp nhận rủi ro, song có thể chia ra thành hai nhóm: Chấp nhận rủi ro thụ động và chấp nhận rủi ro chủ động. 6 + Bảo hiểm: Là sự chuyển giao rủi ro trên cơ sở hợp đồng. Theo quan điểm xã hội thì bảo hiểm không chỉ là chuyển giao rủi ro mà còn là sự giảm rủi ro do việc tập trung một số lớn các rủi ro cho phép có tiên đoán về tổn thất khi chúng xẩy ra. + Bảo hiểm là công cụ đối phó với hậu quả tổn thất do rủi ro gây ra, có hiệu quả nhất.
Nhƣ vậy bảo hiểm ra đời là đòi hỏi khách quan của cuộc sống và hoạt động sản xuất kinh doanh. Sự cần thiết khách quan. - Bảo hiểm góp phần ổn định tài chính cho ngƣời tham gia trƣớc tổn thất do rủi ro gây ra. - Bảo hiểm giúp cuộc sống con ngƣời an toàn hơn, giảm bớt nỗi lo cho mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp.
- Bảo hiểm góp phần ổn định chi tiêu của Ngân sách nhà nƣớc. - Bảo hiểm là kênh huy động vốn để đầu tƣ phát triển kinh tế-xã hội. - Bảo hiểm còn góp phần thúc đẩy phát triển quan hệ kinh tế giữa các nƣớc thông qua hoạt động bảo hiểm. - Bảo hiểm là chổ dựa tinh thần cho mọi ngƣời, mọi tổ chức kinh tế-xã hội, giúp họ yên tâm trong cuộc sống, sinh hoạt và trong hoạt động sản suất kinh doanh với một mức phí bảo hiểm.
Bảo hiểm xã hội 1. Khái niệm về bảo hiểm xã hội Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một trong những loại hình bảo hiểm ra đời khá sớm và ngày nay đã đƣợc phổ biến ở tất cả các nƣớc trên thế giới, đây là một loại hình bảo hiểm đặc biệt, nó ít mang tính chất kinh doanh thƣơng mại mà chủ yếu là tính nhân đạo và nhân văn cao cả. Theo quy luật sinh học thì con ngƣời thƣờng phải trải qua các giai đoạn là: con ngƣời đƣợc sinh ra, đƣợc nuôi dƣỡng đến lúc trƣởng thành, lao động cống hiến sức lực, trí tuệ cho xã hội, cho gia đình, tiếp đến là giai đoạn hết tuổi lao động, già, yếu, bệnh tật đƣợc xã hội, gia đình và lớp ngƣời kế tiếp nuôi dƣỡng chăm sóc cho đến khi 7 chết. Con ngƣời muốn tồn tại và phát triển trƣớc hết phải ăn, mặc, ở, đi lại…để thỏa mãn những nhu cầu đó, con ngƣời phải lao động để đem lại thu nhập.
Nhƣng trong toàn bộ cuộc đời, không phải lúc nào con ngƣời cũng có đủ sức khỏe và cơ hội lao động để có thu nhập. Trái lại, trong thực tế có rất nhiều những rủi ro bất lợi ngẫu nhiên đến với con ngƣời nhƣ ốm đau, tai nạn, suy giảm sức khỏe, mất việc làm… Trong khi đó con ngƣời luôn cần có những nhu cầu về vật chất và tinh thần. Thậm chí trong một số trƣờng hợp, nhu cầu chi tiêu mới nảy sinh còn tăng thêm nhƣ chi phí khám, chữa bệnh, chăm sóc nuối dƣỡng …Chính vì vậy, để chủ động khắc phục những khó khăn, tổn thất đó, mỗi ngƣời lao động và cộng đồng xã hội cần thiết phải có một nguồn lực tài chính dự trữ để kịp thời đáp ứng nhu cầu không những cho bản thân mình, mà còn cho cả những ngƣời mình phải trực tiếp nuôi dƣỡng và cho cả những ngƣời gặp phải những biến cố rủi ro (kể cả ngẫu nhiên và tất yếu) trong đời sống xã hội. Nhƣ vậy, sự ra đời của BHXH là một tất yếu khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn của bất kỳ ai và để đáp ứng với sự phát triển chung của xã hội, đòi hỏi BHXH ngày càng phải đƣợc củng cố và hoàn thiện trong mỗi quốc gia cũng nhƣ trên toàn thế giới.
Vậy “ Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị mất hoặc giảm một phần thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật, tuổi già, tử tuất, dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, có sự bảo hộ của Nhà nước theo pháp luật nhằm ổn định đời sống cho người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội”. (9) Ở Việt Nam cũng nhƣ các nƣớc khác trên thế giới, BHXH đƣợc nghiên cứu dƣới nhiều giác độ khác nhau. Từ góc độ Pháp luật: BHXH là một chế độ pháp định bảo vệ người lao động, sử dụng tiền đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và được sự tài trợ, bảo hộ của Nhà nước, nhằm trợ cấp vật chất cho người được bảo hiểm và gia đình trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập bình thường do ốm đau, tai nạn lao động, thai sản, hết tuổi lao động theo quy định của pháp luật (hưu) hoặc chết. (9) 8 Từ góc độ chính sách xã hội: BHXH là một chính sách xã hội nhằm đảm bảo đời sống vật chất cho người lao động khi họ không may gặp phải các “rủi ro xã hội”, nhằm góp phần đảm bảo an toàn xã hội.
(9) Tuy nhiên, dù ở giác độ nào thì BHXH là sự chia sẻ rủi ro và các nguồn quỹ nhằm bảo vệ ngƣời lao động khi họ không còn khả năng làm việc. Theo tổ chức Lao động thế giới (ILO) đã đưa ra khái niệm về BHXH được chấp nhận rộng rãi trên toàn thế giới: BHXH là hình thức bảo trở mà xã hội dành cho các thành viên của mình thông qua sự huy động các nguồn đóng góp vào quỹ BHXH đề trợ cấp trong các trường hợp ốm đau, tai nạn, thương tật, già yếu, thất nghiệp đồng thời chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con để ổn định đời sống của các thành viên và đảm bảo an toàn xã hội. Theo Bộ luật Lao động: Bảo hiểm xã hội là sự đảm bao thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị mất hoặc giảm khoản thu nhập từ nghề nghiệp do bị mất hoặc giảm khả năng lao động hoặc mất việc làm do những rủi ro xã hội thông qua việc hình thành, sử dụng quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia bảo hiểm xã hội, nhằm góp phần đảm bảo an toàn đời sống của người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội. (10) Khái niệm về Bảo hiểm xã hội đƣợc khái quát một cách cao nhất khi có sự ra đời của uật Bảo hiểm xã hội: “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội”.
Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm mà người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia. Đặc điểm của Bảo hiểm xã hội - BHXH mang tính chất xã hội, phi lợi nhuận, không vì mục đích kinh doanh thu lợi nhuận mà vì mục đích phục vụ cộng đồng xã hội trên phạm vi toàn quốc, nhằm thực hiện chính sách an sinh xã hội của Đảng và Nhà nƣớc, đảm bảo cho ngƣời lao động có khoản trợ cấp thiết yếu khi gặp rủi ro, khó khăn trong cuộc sống. 9 - BHXH cho ngƣời lao động trong và sau quá trình lao động. Nói cách khác, khi đã tham gia vào hệ thống BHXH, ngƣời lao động đƣợc bảo hiểm đến lúc chết.
- Ngƣời lao động muốn đƣợc hƣởng trợ cấp BHXH thì phải có nghĩa vụ đóng BHXH, chủ sử dụng lao động có nghĩa vụ đóng BHXH cho ngƣời lao động do mình ký kết hợp đồng lao động. Sự đóng góp của các bên tham gia BHXH là nguồn hình thành nên quỹ BHXH. Quỹ BHXH đƣợc dùng để chi trả các chế độ BHXH cho ngƣời lao động. Mức hƣởng BHXH đƣợc tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng và có chia sẻ giữa những ngƣời tham gia BHXH.
Sự tƣơng hỗ trong BHXH đƣợc thực hiện trong một cộng đồng, toàn xã hội, nhằm chia sẻ rủi ro; BHXH là một hoạt động thỏa thuận và không thỏa thuận. Điều này thể hiện ở chỗ BHXH có cả BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện.