CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG KHU ĐÔ THỊ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH 1. Khái niệm về dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng khu đô thị 1.1 Khái niệm dự án đầu tư Hoạt động đầu tư là hoạt động bỏ vốn vào một lĩnh vực sản xuất, kinh doanh hay dịch vụ nhằm thu được lợi nhuận. Các hoạt động sản xuất kinh doanh và dịch vụ này chịu sự tác động của nhiều yếu tố từ môi trường bên ngoài: môi trường chính trị, kinh tế, xã hội. hay còn gọi là môi trường đầu tư.
Mặt khác, các hoạt động đầu tư là hoạt động cho tương lai, do đó nó chứa đựng bên trong rất nhiều yếu tố bất định. Đó chính là các yếu tố làm cho dự án có khả năng thất bại, làm xuất hiện các yếu tố rủi ro, không chắc chắn. Đứng về phía nhà đầu tư, nếu hoạt động đầu tư gặp rủi ro nhà đầu tư sẽ thất bại và có khả năng phá sản, đứng về phía Nhà nước hoạt động đầu tư của Nhà đầu tư thất bại sẽ không đạt được mục tiêu của Nhà nước, làm thất thu ngân sách đồng thời nảy sinh nhiều vấn đề xã hội như thất nghiệp, tệ nạn xã hội, ô nhiễm môi trường. Vì vậy trong hoạt động đầu tư việc phân tích và đánh giá đầy đủ trên nhiều khía cạnh khác nhau là việc làm hết sức quan trọng.
Sự thành công hay thất bại của một dự án đầu tư được quyết định từ việc phân tích có chính xác hay không. Có thể nói, dự án đầu tư được soạn thảo tốt là cơ sở vững chắc cho việc thực hiện các hoạt động đầu tư đạt hiệu quả kinh tế xã hội mong muốn. Hầu hết các nước trên thế giới đều tiến hành hoạt động đầu tư dưới hình thức các dự án đầu tư. Dự án đầu tư là công cụ để tiến hành các hoạt động đầu tư, do đó bên trong nó chứa đựng các yếu tố cơ bản của hoạt động đầu tư.
Vậy dự án là gì? có rất nhiều cách định nghĩa về dự án: Trong những năm gần đây khái niệm "dự án" trở nên thân quen đối với các nhà quản lý các cấp. Có rất nhiều hoạt động trong tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp được thực hiện theo hình thức dự án. Phương pháp quản lý dự án càng trở nên quan trọng và nhận được sự chú ý ngày càng tăng trong xã hội. Điều này một phần do tầm quan trọng của dự án trong việc thực hiện các kế hoạch phát triển kinh tế, sản xuất kinh doanh và đời sống xã hội.
Do vậy, cần thiết phải xác định rõ quản lý dự án là gì, nội dung của quản lý dự án ra sao và nó khác với các phương pháp quản lý khác thế nào. 13 Hiện nay có rất nhiều cách định nghĩa về dự án: Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hoá ISO trong tiêu chuẩn ISO 9000: 2000 định nghĩa như sau: “Dự án là một quá trình đơn nhất, gồm một tập hợp các hoạt động có phối hợp và được kiểm soát, có thời hạn bắt đầu và kết thúc, được tiến hành để đạt được một mục tiêu phù hợp với các yêu cầu quy định, bao gồm cả các ràng buộc về thời gian, chi phí và nguồn lực”. Trịnh Quốc Thắng, dự án được định nghĩa như sau: “Dự án là sự chi phí tiền và thời gian để thực hiện một kế hoạch nhằm mục đích cho ra một sản phẩm duy nhất”. Theo Tiến sỹ Ben Obinero Uwakenh trường Đại học Cincinnati - Mỹ “Dự án là sự nỗ lực tạm thời được tiến hành để tạo ra một sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất”.
Nói tạm thời bởi nó có thời gian bắt đầu và kết thúc, duy nhất vì các sản phẩm, dịch vụ đều khác nhau. Từ những định nghĩa khác nhau có thể rút ra một số đặc trưng cơ bản của dự án như sau: - Dự án có mục đích, kết quả xác định: Tất các các dự án đều phải có kết quả được xác định rõ. Kết quả này có thể là một toà nhà, một nhà máy hay là chiến thắng của một chiến dịch vận động tranh cử vào một vị trí chính trị gia. - Dự án có chu kỳ phát triển riêng và có thời gian tồn tại hữu hạn: Dự án là một sự sáng tạo.
Giống như các thực thể sống, dự án cũng trải qua các giai đoạn: hình thành, phát triển, có thời điểm bắt đầu và kết thúc. Dự án không kéo dài mãi mãi. Khi dự án kết thúc, kết quả dự án được chuyển giao cho bộ phận quản lý vận hành, nhóm quản trị dự án giải tán. - Sản phẩm của dự án mang tính chất đơn chiếc: Khác với quá trình sản xuất liên tục và gián đoạn, kết quả của dự án không phải là sản phẩm sản xuất hàng loạt, mà có tính khác biệt cao.
Sản phẩm và dịch vụ do dự án đem lại là duy nhất, hầu như không lặp lại. - Dự án liên, quan đến nhiều bên, và có sự tương tác phức tạp giữa các bộ phận quản lý chức năng với quản lý dự án: Dự án nào cũng có sự tham gia của nhiều 14 bên hữu quan như chủ đầu tư, người hưởng thụ dự án, các nhà tư vấn, nhà thầu, các cơ quan quản lý Nhà nước. - Môi trường hoạt động "va chạm": Quan hệ giữa các dự án là quan hệ chia nhau cùng một nguồn lực khan hiếm của xã hội. Dự án "cạnh tranh" lẫn nhau và với các hoạt động tổ chức sản xuất khác về tiền vốn, nhân lực, thiết bị.
Do đó, môi trường quản lý dự án có nhiều quan hệ phức tạp nhưng năng động. - Tính bất định và độ rủi ro cao: Hầu hết các án đòi hỏi qui mô tiền vốn, vật tư và lao động rất lớn để thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định. Mặt khác, thời gian đầu tư và vận hành kéo dài nên các dự án đầu tư phát triển thường có độ rủi ro cao. - Các dự án đều được tiến hành bởi con người: bất kỳ dự án nào cũng do con người tiến hành và có sự tham gia của nhiều bên hữu quan như chủ đầu tư, người hưởng thụ dự án, các nhà tư vấn, nhà thầu, các cơ quan quản lý Nhà nước.
- Được hoạch định, được thực hiện và được kiểm soát.2 Quan niệm về cơ sở hạ tầng đô thị 1.1 Khái niệm về cơ sở hạ tầng đô thị Cơ sở hạ tầng đô thị là toàn bộ các công trình giao thông vận tải, bưu điện, thông tin liên lạc, dịch vụ xã hội như: Đường sá, kênh mương dẫn nước, cấp thoát nước, sân bay, nhà ga xe lửa, ô tô, cảng sông, cảng biển, cơ sở năng lượng, hệ thống mạng điện, đường ống dẫn xăng, dầu, dẫn khí ga, hơi đốt, kho tàng, giao thông vận tải, giáo dục phổ thông và chuyên nghiệp, y tế, dịch vụ ăn uống công cộng, nghỉ ngơi du lịch, vui chơi giải trí, rác thải môi trường đô thị. Theo từ chuẩn Anh - Mỹ, thuật ngữ “Cơ sở hạ tầng” (infrastructure) được thể hiện trên 4 bình diện: Một là, tiện ích công cộng (public utilities): năng lượng (điện…) viễn thông nước sạch cung cấp qua hệ thống ống dẫn, khí đốt truyền tải qua ống, hệ thống thu gom và xử lý các chất thải trong thành phố. Hai là, công chính (public works): đường sá, các công trình xây dựng đập, kênh phục vụ tưới tiêu. 15 Ba là, giao thông (transport): các trục và tuyến đường bộ, đường sắt chính quy (Conventionnial railway) đường sắt vận chuyển nhanh (massrapid transit tailway) cảng cho tầu và máy bay, đường thuỷ… Bốn là, hạ tầng xã hội (social infrastructure): trường học, bệnh viện Tóm lại, cơ sở hạ tầng đô thị là những tài sản vật chất và các hoạt động hạ tầng có liên quan dùng để phục vụ các nhu cầu kinh tế- xã hội của cộng đồng dân cư đô thị.
Nó chính là tiêu chuẩn để phân biệt đô thị với nông thôn.2 Phân loại cơ sở hạ tầng đô thị Dựa trên những tiêu chí khác nhau, có thể phân chia cơ sở hạ tầng đô thị thành nhiều loại khác nhau: - Theo tính chất ngành cơ bản có thể phân ra: Cơ sở hạ tầng khu đô thị; Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội đô thị; Cơ sở hạ tầng dịch vụ xã hội đô thị. - Theo tính phục vụ có thể phân ra: Cơ sở hạ tầng đô thị phục vụ sản xuất vật chất; Cơ sở hạ tầng đô thị phục vụ về nhu cầu văn hoá tinh thần. - Theo trình độ phát triển có thể phân ra: Cơ sở hạ tầng đô thị phát triển cao; Cơ sở hạ tầng đô thị phát triển trung bình; Cơ sở hạ tầng đô thị phát triển thấp. - Theo quy mô đô thị có thể phân ra: Cơ sở hạ tầng siêu đô thị; Cơ sở hạ tầng đô thị lớn; Cơ sở hạ tầng đô thị trung bình; Cơ sở hạ tầng đô thị nhỏ.
Tuy vậy, trong số các tiêu chí được đưa ra để phân loại như trên, cách phân loại căn cứ vào tính chất ngành là thông dụng nhất và có ý nghĩa nhiều nhất đối với công tác quy hoạch và phát triển đô thị. Vì vậy cần đi sâu vào tiêu chí phân loại này. Thứ nhất, cơ sở hạ tầng khu đô thị. Đây là hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho sự phát triển của các ngành các lĩnh vực kinh tế trong nền kinh tế quốc dân, bao gồm tiện ích công cộng, công chánh, giao thông.
Cụ thể là: hệ thống giao thông vận tải, cầu cống, sân bay, bến cảng.; Hệ thống cung ứng vật tư kỹ thuật nguyên nhiên liệu phục vụ sản xuất và đời sống; Mạng lưới vận tải và phân phối năng lượng (bao gồm các trạm biến áp trung chuyển, hạ thế, các thiết bị an toàn và bảo vệ); Hệ thống thiết bị công trình và phương tiện thông tin liên lạc, bưu điện, lưu trữ, và xử lý thông tin; Hệ thống thuỷ lợi, thuỷ 16 nông phục vụ việc tưới tiêu và phục vụ cho chăn nuôi; Cơ sở hạ tầng môi trường phục vụ cho việc bảo vệ giữ gìn và cải tạo môi trường sinh thái của đất nước và môi trường sống của con người. Hệ thống này thường bao gồm các công trình chống thiên tai; các công trình bảo vệ đất rừng, biển và các tài nguyên khác; hệ thống cung cấp, xử lý và tiêu nước sinh hoạt; hệ thống xử lý rác thải công nghiệp.