CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO SỰ NGHIỆP Y TẾ 1. Khái quát chi thường xuyên ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp y tế 1. Khái niệm chi ngân sách nhà nước “Chi NSNN (hay chi tiêu công) là những khoản chi tiêu do Chính phủ hoặc các pháp nhân hành chính thực hiện để đạt được các mục tiêu công ích chẳng hạn như: bảo vệ an ninh và trật tự, cứu trợ bảo hiểm, trợ giúp kinh tế, chống thất nghiệp… Về mặt bản chất, chi NSNN là hệ thống những quan hệ phân phối lại các khoản thu nhập phát sinh trong quá trình sử dụng có kế hoạch quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm thực hiện tăng trưởng kinh tế, từng bước mở mang các sự nghiệp văn hóa – xã hội, duy trì hoạt động của bộ máy quản lý Nhà nước và bảo đảm an ninh quốc phòng” (theo Trần Đình Ty và cộng sự ,2003, tr 110). Chi NSNN có quan hệ chặt chẽ với thu NSNN.
Thu ngân sách là nguồn vốn để đảm bảo nhu cầu chi ngân sách, ngược lại sử dụng vốn ngân sách để chi cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế lại điều kiện để tăng nhanh thu nhập của ngân sách. Do vậy, việc sử dụng vốn, chi tiêu ngân sách một cách có hiệu quả, tiết kiệm luôn được Nhà nước quan tâm. Chi NSNN gắn liền với thực hiện các chính sách kinh tế, chính trị, xã hội của Nhà nước trong từng thời kỳ. Điều này chứng tỏ các khoản chi của NSNN có ảnh hưởng rất lớn tới đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của quốc gia.
Khái niệm chi thường xuyên ngân sách “Chi thường xuyên là nhiệm vụ chi của NSNN nhằm bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, hỗ trợ hoạt động của các tổ chức khác và thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh” (khoản 6 Điều 4 Luật NSNN năm 2015). Khái niệm chi thường xuyên từ ngân sách Nhà nước Chi thường xuyên là nhiệm vụ chi của NSNN nhằm bảo đảm hoạt động của bộ máy Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, hỗ trợ hoạt động của các tổ chức khác và thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh (theo quy định khoản 6 Điều 4 Luật NSNN năm 2015). Chi thường xuyên Chi các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, xã hội, văn hóa, thông tin, thể dục thể thao, sự nghiệp khoa học và công nghệ, môi trường, các sự nghiệp khác; các hoạt động kinh tế; quốc phòng, an ninh và an toàn xã hội; hoạt động các cơ quan Nhà nước, Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội; trợ giá theo chính sách Nhà nước; các chương trình quốc gia; hỗ trợ bảo hiểm xã hội; trợ cấp cho đối tượng chính sách xã hội; tài trợ cho các tổ chức xã hội; xã hội – nghề nghiệp; trả tiền lãi do Nhà nước vay; chi viện trợ; các khoản chi khác (theo quy định tại khoản 3 Điều 36 và khoản 2 Điều 37 Luật NSNN năm 2015). Dự toán chi thường xuyên được lập trên cơ sở nhiệm vụ được giao, nhiệm vụ được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định.
Việc lập dự toán ngân sách của các cơ quan Nhà nước thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính; đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính thực hiện theo quy định của Chính phủ (theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 42 Luật NSNN năm 2015). Chi đầu tư phát triển Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; đầu tư hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp Nhà nước, góp vốn cổ phần, liên doanh vào các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực cần thiết; chi cho quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia và các quỹ hỗ trợ phát triển đối với các chương trình, dự án phát triển kinh tế; chi cho dự trữ Nhà nước (theo quy định tại khoản 1 Điều 36 và khoản 1 Điều 38 Luật NSNN năm 2015). Dự toán chi đầu tư phát triển được lập trên cơ sở quy hoạch, kế hoạch, chương trình, 3 dự án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; kế hoạch tài chính 05 năm, kế hoạch đầu tư trung hạn nguồn NSNN, khả năng cân đối các nguồn lực trong năm dự toán, quy định của pháp luật về đầu tư công, xây dựng và quy định khác của pháp luật có liên quan (theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 42 Luật NSNN năm 2015). Chi trả nợ do Chính phủ vay và chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính.
Dự toán chi trả nợ được lập trên cơ sở bảo đảm trả các khoản nợ đến hạn của năm dự toán ngân sách (theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 42 Luật NSNN năm 2015). Dự toán vay bù đắp bội chi NSNN phải căn cứ vào cân đối NSNN, khả năng từng nguồn vay, khả năng trả nợ và trong giới hạn an toàn về nợ theo Nghị quyết của Quốc hội (theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 42 Luật NSNN năm 2015). Chi thường xuyên từ ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp y tế Chi thường xuyên từ NSNN cho SNYT chính là việc sử dụng nguồn vốn từ ngân sách làm công cụ thực hiện các hoạt động y tế hay chính là quản lý đầu ra của ngân sách thông qua các chế độ, định mức hiện hành. Chi thường xuyên cho SNYT là chi cho các hoạt động nhằm phục vụ công tác khám, chữa bệnh; công tác phòng bệnh, điều dưỡng, phục hồi chức năng; chi cho các chương trình, dự án quốc gia về y tế, chương trình quốc gia về dân số kế hoạch hoá gia đình.
Xét về nội dung, chi cho SNYT trước hết bao gồm các khoản chi cho bộ máy, con người như: thanh toán cho các nhân, chi cho công việc hành chính. Chi nghiệp vụ chuyên môn gắn với nhiệm vụ cụ thể của mỗi đơn vị, như gắn với nhiệm vụ khám, chữa bệnh hay điều dưỡng. Các nguồn tài chính đảm bảo nhiệm vụ chi thường xuyên SNYT ở nước ta bao gồm: - Nguồn từ NSNN đây là nguồn tài chính lớn nhất, chủ đạo và quan trọng nhất đảm bảo cho hoạt động thường xuyên, liên tục cho cho sự nghiệp khám chữa bệnh; chăm sóc và bảo vệ sức khỏe. - Nguồn đóng góp của người dân thông qua hình thức thu một phần viện phí, phí các dịch vụ kỹ thuật y tế như siêu âm, chuẩn đoán qua chụp phim X quang, 4 Scanner… nguồn này được coi như nguồn của NSNN được bổ sung vào NSNN qua hình thức “ghi thu, ghi chi”.
- Nguồn kinh phí từ Quỹ BHYT tế chuyển sang cho các bệnh viện, trung tâm y tế để thanh toán chi phí chữa bệnh chi trả thuốc men, hóa chất, vật tư dụng cụ y tế cho người bệnh theo tiêu chuẩn, chế độ của Nhà nước; nguồn kinh phí này ngày càng lớn trong những năm gần đây do nước ta đang thực hiện chiến lược BHYT cho toàn dân vì vậy đây cũng là nguồn kinh phí đáng kể theo Luật Bảo hiểm Y tế quy định bổ sung vào nguồn tài chính đảm bảo chi thường xuyên cho SNYT ở nước ta. Như vậy nguồn tài chính để đảm bảo cho công tác hoạt động thường xuyên của SNYT theo 03 nguồn nêu trên nhưng trong phạm vi thuộc lĩnh vực nghiên cứu của luận văn chỉ đi sâu vào công tác quản kinh phí chi thường xuyên cho SNYT từ nguồn NSNN nhưng sẽ không đầy đủ nếu không đề cập đến nguồn thu viện phí coi như nguồn NSNN và nguồn thanh toán của Quỹ BHYT chuyển sang chi thường xuyên cho SNYT. Theo đó chi thường xuyên cho SNYT được chia thành các nhóm sau: - Nhóm chi cho con người (còn gọi là chi cho thanh toán cá nhân) bao gồm: Các khoản chi lương, phụ cấp theo lương, phụ cấp trực đêm, phụ cấp phẫu thuật, phụ cấp trách nhiệm .cho công chức viên chức trong ngành y tế, thuộc về nhóm này còn có các khoản chi phúc lợi xã hội như thanh toán tàu xe nghỉ phép cho các trường hợp bố mẹ, vợ chồng qua đời được cho phép hỗ trợ theo chế độ do mức Nhà nước quy định .; - Nhóm chi về nghiệp vụ phí gồm: Các khoản chi như: Chi điện, nước, điện thoại thông tin liên lac, chi phi thuốc men, dụng cụ, bông băng cồn gạc,. bị mất đi trong quá trình khám và chữa bệnh cho bệnh nhân ở các cơ sở y tế công lập từ tuyến Trung ương đến tuyến y tế xã phường; - Nhóm chi về mua sắm, sửa chữa thường xuyên như: Chi sửa chửa nhỏ nhà cửa, buồng bệnh, chi thay thế phụ tùng máy móc, thiết bị y tế, sửa chữa tủ giường đựng quần áo bệnh nhân, quần áo bảo hộ lao động của nhân viên, mua sắm vật rẻ tiền mau hỏng, tiêu hao trong quá trình khám chữa bệnh.
5 -Nhóm chi thường xuyên khác bao gồm: Các khoản chi thường xuyên phát sinh nhưng không ổn định như chi trật tự an toàn xã hội, vệ sinh môi trường, hỗ trợ tập luyện dân quân tự vệ phường xã nơi cơ sở y tế làm việc. Nội dung công tác quản lý kinh phí chi thường xuyên cho sự nghiệp y tế Chính là sự tác động liên tục, có tổ chức, có kế hoạch theo chu trình quản lý chi tiêu từ nguồn NSNN (bao gồm từ khâu lập dự toán kinh phí; chấp hành dự toán kinh phí và quyết toán kinh phí chi thường xuyên cho sư nghiệp y tế từ NSNN) bằng một hệ thống đồng bộ các biện pháp nhằm đạt đươc hiệu quả, chi tiêu hơp lý, tiết kiệm trong những điều kiện cụ thể về thực trạng tình hình diễn biến bệnh tật ở địa phương nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân. Khái niệm chi thường xuyên ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp y tế Chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp y tế chính là việc sử dụng nguồn vốn từ ngân sách làm công cụ thực hiện các hoạt động y tế hay chính là quản lý đầu ra của ngân sách thông qua các chế độ, định mức hiện hành.