Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG 1. Cơ sở lý luận về quản lý dự án đầu tư xây dựng của Bộ Quốc Phòng 1. Một số khái niệm Dự án, là việc thực hiện một mục đích hay nhiệm vụ công việc nào đó dưới sự ràng buộc về yêu cầu và nguồn lực đã định. Thông qua việc thực hiện dự án để cuối cùng đạt được mục tiêu nhất định đã đề ra và kết quả của nó có thể là một sản phẩm hay một dịch vụ mà bạn mong muốn (Từ Quang Phương 2015).
Theo tác giả Bùi Mạnh Hùng (2006), dự án là tập hợp các đề xuất để thực hiện một phần hay toàn bộ công việc nhằm đạt được mục tiêu hay yêu cầu nào đó trong một thời gian nhất định dựa trên nguồn vốn xác định. Theo Ben Obinero Uwakenh Trường Đại học Cincinnati - Mỹ “ Dự án là sự nỗ lực tạm thời được tiến hành để tạo ra một sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất”. Từ những quan niệm khác nhau, có thể thống nhất: “Dự án là một quá trình đơn nhất, gồm một tập hợp các hoạt động có phối hợp và được kiểm soát, có thời hạn bắt đầu và kết thúc, được tiến hành để đạt được một mục tiêu phù hợp với các yêu cầu quy định, bao gồm cả các ràng buộc về thời gian, chi phí và nguồn lực”. Dự án đầu tư, là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến nâng cao chất lượng của sản phẩm/dịch vụ nào đó trong một thời gian xác định (Đỗ Đình Đức và Bùi Mạnh Hùng, 2012).
Theo Đỗ Đình Đức và Bùi Mạnh Hùng (2012), một dự án đầu tư bao gồm các yếu tố cơ bản sau: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 (1) Mục tiêu của dự án: Mục tiêu của dự án được thể hiện ở hai mức: (i) mục tiêu phát triển và (ii) mục tiêu trước mắt. Mục tiêu phát triển là những lợi ích kinh tế xã hội do thực hiện dự án đem lại và mục tiêu trước mắt là các mục đích cụ thể cần đạt được của việc thực hiện dự án. (2) Các kết quả: Đó là những kết quả cụ thể, có định lượng được tạo ra từ các hoạt động khác nhau của dự án. Đây là điều kiện cần thiết để thực hiện được các mục tiêu của dự án.
(3) Các hoạt động: Mỗi dự án đều có những nhiệm vụ hoặc hành động được thực hiện để tạo ra các kết quả nhất định. Những nhiệm vụ hoặc hành động này cùng với một kế hoạch thực hiện và phân công trách nhiệm cụ thể của các bộ phận thực hiện sẽ tạo thành kế hoạch làm việc của dự án. (4) Các nguồn lực: Nguồn lực để thực hiện dự án chính là các yếu tố vật chất, tài chính và con người cần thiết để tiến hành các hoạt động của dự án. Giá trị hoặc chi phí của các nguồn lực này chính là vốn đầu tư cần cho dự án.
Theo Luật Đầu tư số 43/2014/QH13 ngày 26/11/2014: “Dự án đầu tư là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định”. Căn cứ theo Luật Đầu tư, dự án đầu tư có thể được hiểu theo hai cách như sau: Xét về mặt hình thức, dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động, chi phí theo một kế hoạch để đạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai. Xét về mặt nội dung, dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động có liên quan với nhau được kế hoạch hoá nhằm đạt được các mục tiêu đã định bằng việc tạo ra các kết quả cụ thể trong một thời gian nhất định, thông qua việc sử dụng các nguồn lực xác định. Xét về mặt quản lý, thông qua dự án đầu tư nhà đầu tư có thể quản lý về việc sử dụng vốn, vật tư, trang thiết bị,… nhằm đem lại kết quả tốt về tài chính và kinh tế trong thời gian dài.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Dự án đầu tư xây dựng, luật xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014 quy định: “Dự án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm/dịch vụ trong một thời gian nhất định. Dự án đầu tư xây dựng công trình bao gồm phần thuyết minh và phần thiết kế cơ sở”. Quản lý dự án: Theo quan điểm của Viện quản lý dự án quốc tế (PMI- 2000): Quản lý dự án là việc áp dụng kiến thức, các kỹ năng, các công cụ và các kỹ thuật vào hoạt động dự án nhằm đáp ứng các yêu cầu của dự án. - Quản lý dự án là tổng thể những tác động có hướng đích của chủ thể quản lý tới quá trình hình thành, thực hiện và hoạt động của dự án nhằm đạt tới mục tiêu dự án trong những điều kiện và môi trường biến động.
Một cách cụ thể hơn, quản lý dự án là quá trình chủ thể quản lý thực hiện chức năng lập kế hoạch, tổ chức, điều hành và kiểm tra dự án nhằm đảm bảo các phương diện thời hạn, nguồn lực (chi phí) và độ hoàn thiện (chất lượng) của dự án. - Quản lý dự án là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực và giám sát quá trình triển khai của dự án nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng thời hạn, trong phạm vi ngân sách được duyệt và đạt được các yêu cầu đã định về kỹ thuật và chất lượng sản phẩm, dịch vụ bằng phương pháp và điều kiện tốt cho phép. Từ khái niệm dự án, dự án đầu tư xây dựng, Quản lý dự án, tác giả đề xuất khái niệm về quản lý dự án đầu tư xây dựng như sau: quản lý dự án đầu tư xây dựng là tổng hợp các tác động của chủ thể quản lý (Chủ đầu tư) bằng pháp luật xây dựng, bằng các chức năng quản lý như chức năng lập kế hoạch công việc để quản lý; chức năng tổ chức điều hành thực hiện các công việc; chức năng kiểm tra, kiểm soát, hiệu chỉnh các sai lệch trong quản lý gây ra đến đối tượng bị quản lý là toàn bộ các hoạt động đầu tư xây dựng của dự án và các chủ thể thực hiện chúng nhằm hoàn thành tốt các mục tiêu đặt ra trong quản lý dự án. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Quản lý dự án đầu tư xây dựng của Bộ quốc phòng là tổng hợp các tác động của Bộ quốc phòng bằng pháp luật xây dựng, bằng các chức năng quản lý như chức năng lập kế hoạch công việc để quản lý; chức năng tổ chức điều hành thực hiện các công việc; chức năng kiểm tra, kiểm soát, hiệu chỉnh các sai lệch trong quản lý gây ra đến đối tượng bị quản lý là toàn bộ các hoạt động đầu tư xây dựng của dự án thuộc sự quản lý của Bộ quốc phòng và các chủ thể thực hiện chúng nhằm hoàn thành tốt các mục tiêu đặt ra trong quản lý dự án của Bộ Quốc phòng.
Đặc điểm, nguyên tắc, mục tiêu của quản lý dự án đầu tư xây dựng 1. Đặc điểm của quản lý dự án đầu tư xây dựng a. Đặc điểm của quản lý dự án đầu tư xây dựng Xuất phát từ đặc thù của dự án đầu tư xây dựng đã phân tích ở trên, tác giả thấy rằng công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng có một số các đặc điểm như sau: - Thứ nhất, dự án đầu tư xây dựng có sản phẩm cuối cùng là công trình xây dựng (CTXD) hoàn thành đảm bảo các mục tiêu ban đầu đã đặt ra về thời gian, chi phí, chất lượng, an toàn, vệ sinh và bảo vệ môi trường… Sản phẩm là công trình của dự án đầu tư xây dựng mang tính đơn chiếc, độc đáo và không phải là sản phẩm của một quá trình sản xuất liên tục, hàng loạt cho nên công tác quản lý dự án mang tính độc lập, đơn chiếc. - Thứ hai, quản lý dự án đầu tư xây dựng có chu kỳ riêng trải qua các giai đoạn hình thành và phát triển, có thời gian tồn tại hữu hạn, nghĩa là có thời điểm bắt đầu xuất hiện ý tưởng về xây dựng công trình dự án và kết thúc khi CTXD hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng, khi công trình dự án hết niên hạn khai thác và chấm dứt tồn tại đều thực hiện công tác quản lý.
- Thứ ba, quản lý dự án đầu tư xây dựng cần thực hiện quản lý sự tham gia của nhiều chủ thể, đó là chủ đầu tư, chủ công trình, đơn vị thiết kế, đơn vị quản lý, đơn vị giám sát, đơn vị thi công, nhà cung ứng…Các chủ thể này có Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 lợi ích khác nhau, quan hệ giữa họ thường mang tính đối tác. Môi trường làm việc mang tính đa phương và dễ xảy ra xung đột quyền lợi giữa các chủ thể vì vậy, khi tiến hành hoạt động đầu tư xây dựng cần phải có sự liên kết chặt chẽ giữa các chủ thể trong quản lý quá trình đầu tư. - Thứ tư, quản lý dự án đầu tư xây dựng luôn bị hạn chế bởi các nguồn lực là tiền vốn, nhân lực, công nghệ, kỹ thuật, vật tư thiết bị…kể cả thời gian, ở góc độ là thời gian cho phép. - Thứ năm, quản lý dự án đầu tư xây dựng luôn trong môi trường hoạt động phức tạp và có tính rủi ro cao chủ yếu là do thời gian của quá trình đầu tư kéo dài.
Trong thời gian này các yếu tố kinh tế, chính trị và của tự nhiên biến động sẽ gây nên những thất thoát, lãng phí, gọi chung là những tổn thất mà nhà đầu tư không lường trước được hết khi lập dự án.