CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI KHU CÔNG NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với KCN 1. Một số vấn đề chung về KCN 1. Khái niệm về KCN Hình 1.
Hiện trạng KCN Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh Theo nghiên cứu của Đỗ Minh Tuấn: “KCN là khu có hàng rào ngăn cách với bên ngoài, chịu sự quản lý riêng, tập trung tất cả các doanh nghiệp hoạt động theo bất kỳ cơ chế nào (xuất khẩu hàng hoá và hoặc tiêu thụ nội địa), miễn là phù hợp với các quy định quy hoạch về vị trí và ngành nghề, một phần đất nằm trong KCN có thể dành cho khu chế xuất” [3]. Theo khái niệm này thì KCN là một khu vực có phạm vi ranh giới riêng, dành cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh theo đúng lĩnh vực và địa điểm quy định trong quy hoạch được phê duyệt. Trong luận văn này, KCN được hiểu theo quy định tại khoản 16 Điều 3 Luật Đầu tư số 61/2020/QH14 ngày 17/6/2020 và khoản 1 Điều 2 Nghị định số 35/2022/NĐ-CP ngày 28/5/2022: “KCN là khu vực có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và cung ứng dịch vụ cho sản xuất công nghiệp”[5; 7]. Như vậy, KCN có phạm vi không gian riêng, chỉ dành cho ngành nghề có tính chất sản xuất công nghiệp và dịch vụ phục vụ cho sản xuất công nghiệp; không bao gồm dân cư sinh sống bên trong và không có hoạt động sản xuất kinh doanh ngoài lĩnh vực công nghiệp.
17 Theo Điều 2 Nghị định số 35/2022/NĐ-CP ngày 28/5/2022 đưa ra một số mô hình KCN và giải thích một số từ ngữ như sau: “KCN hỗ trợ là KCN chuyên sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ và cung ứng dịch vụ cho sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ; có tối thiểu 60% tổng diện tích đất công nghiệp của KCN được sử dụng để thu hút các dự án đầu tư sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ theo quy định của pháp luật về phát triển công nghiệp hỗ trợ. KCN chuyên ngành là KCN chuyên sản xuất và cung ứng dịch vụ cho sản xuất sản phẩm thuộc một ngành, nghề cụ thể; có tối thiểu 60% diện tích đất công nghiệp của KCN được sử dụng để thu hút các dự án đầu tư thuộc ngành, nghề này. KCN sinh thái là KCN, trong đó có doanh nghiệp trong KCN tham gia vào hoạt động sản xuất sạch hơn và sử dụng hiệu quả tài nguyên, có sự liên kết, hợp tác trong sản xuất để thực hiện hoạt động cộng sinh công nghiệp; đáp ứng các tiêu chí quy định tại Nghị định này. KCN công nghệ cao là KCN thu hút các dự án đầu tư công nghệ cao, công nghệ thông tin thuộc Danh mục ngành, nghề đặc biệt ưu đãi đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư, dự án có chuyển giao công nghệ thuộc Danh mục công nghệ khuyến khích chuyển giao theo quy định của pháp luật về chuyển giao công nghệ, cơ sở ươm tạo công nghệ, cơ sở ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ theo quy định của pháp luật về công nghệ cao, pháp luật về khoa học và công nghệ, dự án đầu tư khởi nghiệp sáng tạo, đổi mới sáng tạo, nghiên cứu và phát triển, giáo dục và đào tạo; có tối thiểu 30% diện tích đất công nghiệp của KCN được sử dụng để thu hút các dự án đầu tư này.
Dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng KCN là dự án đầu tư có sử dụng đất để xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng kỹ thuật tại KCN và cho các nhà đầu tư thuê đất, thuê lại đất để xây dựng nhà xưởng, văn phòng, kho bãi, công trình dịch vụ, tiện ích công cộng, thực hiện dự án đầu tư, tổ chức sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật” [5]. Nguồn vốn để xây dựng hạ tầng KCN có thể do nhà nước đầu tư bằng vốn nhà nước (gồm vốn ngân sách nhà nước và vốn nhà nước ngoài ngân sách) hoặc do doanh nghiệp ngoài nhà nước đầu tư bằng nguồn vốn khác. Theo Điều 4 Khoản 44 Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 ngày 26/11/2013, vốn Nhà nước quy định: “Vốn nhà nước bao gồm vốn ngân sách nhà nước; công trái quốc gia, trái phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương; vốn hỗ trợ phát triển chính thức, vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ; vốn từ quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp; vốn tín dụng đầu tư 18 phát triển của Nhà nước; vốn tín dụng do Chính phủ bảo lãnh; vốn vay được bảo đảm bằng tài sản của Nhà nước; vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước; giá trị quyền sử dụng đất”. Theo Khoản 14, Điều 2 Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 quy định: “Vốn nhà nước ngoài ngân sách là vốn nhà nước theo quy định của pháp luật nhưng không bao gồm vốn ngân sách nhà nước”.
Việc xác định vốn ngân sách Nhà nước căn cứ theo quy định tại Luật Ngân sách nhà nước số 83/2015/QH13 ngày 25/6/2015, cụ thể: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”; “vốn Nhà nước ngoài ngân sách là các nguồn vốn không nằm trong dự toán ngân sách Nhà nước”. Hạ tầng KCN được đầu tư bằng vốn nhà nước thì sẽ thuộc dự án đầu tư công, cơ quan nhà nước sẽ làm chủ đầu tư, quá trình từ lập dự án đến quản lý đầu tư xây dựng hạ tầng hoàn toàn do cơ quan nhà nước thực hiện theo quy định của Luật đầu tư công. Nhà nước trực tiếp cho doanh nghiệp thuê đất để sản xuất kinh doanh và thu phí sử dụng hạ tầng theo giá áp dụng chung do nhà nước công bố hàng năm. Hạ tầng KCN được đầu tư bằng vốn khác sẽ thuộc dự án đầu tư xây dựng thực hiện theo Luật Đầu tư, chủ đầu tư là doanh nghiệp không dùng vốn nhà nước.
Doanh nghiệp thực hiện dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng KCN bằng nguồn vốn khác, được hiểu là doanh nghiệp kinh doanh bất động sản công nghiệp từ vốn đầu tư của doanh nghiệp, bao gồm vốn góp, vốn huy động và vốn vay thương mại (không phải là vốn nhà nước). Nhà đầu tư hạ tầng được thuê đất trực tiếp của nhà nước để đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội của KCN, sau đó cho các doanh nghiệp thứ cấp thuê lại đất trong KCN thực hiện dự án sản xuất kinh doanh. Nhà đầu tư kinh doanh hạ tầng của KCN thông qua việc cho thuê bất động sản là diện tích đất công nghiệp, đất dịch vụ với giá thỏa thuận; Đồng thời thu phí sử dụng hạ tầng (nước sạch, xử lý nước thải, điện,…) đối với doanh nghiệp thứ cấp. Thông thường một KCN chỉ do một nhà đầu tư hạ tầng được giao làm chủ đầu tư xây dựng, kinh doanh kết cấu hạ tầng, thực hiện dự án đầu tư theo Luật Đầu tư.
Doanh nghiệp sẽ cần được cấp các thủ tục hành chính đối với dự án đầu tư như: Quyết định chủ chương đầu tư, Quyết định phê duyệt đánh giá tác động môi trường, Quy hoạch chi tiết, Giấy phép xây dựng, Giấy phép môi trường, Giấy phép đảm bảo an toàn phòng cháy chữa cháy,… 19 1. Vai trò của KCN với phát triển kinh tế xã hội KCN là nơi tập trung các doanh nghiệp nước ngoài và doanh nghiệp trong nước sử dụng vốn đầu tư để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh. KCN có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội của từng địa phương và của nền kinh tế của mỗi Quốc gia, cụ thể như sau: - Hiện đại hóa cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, góp phần phát triển các đô thị, nhà ở cho chuyên gia và người lao động, đồng thời kéo theo sự phát triển các ngành dịch vụ như: logistics, kinh doanh xăng dầu, sửa chữa bảo dưỡng ô tô, xe máy, ăn, nghỉ, làm đẹp,… - Tạo ra nhiều việc làm, thu nhập cho doanh nghiệp và người lao động tại khu vực. - Kích thích sự phát triển của các ngành công nghiệp phụ trợ, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước - Nâng cao trình độ công nghệ, năng lực sản xuất của doanh nghiệp cũng như tay nghề của lao động.
- Tăng thu ngân sách thông qua công cụ về thuế (thuế thu nhập doanh nghiệp, giá trị gia tăng, xuất nhập khẩu, tiền thuê đất,…) - Thu hút thêm nhiều nhà đầu tư nước ngoài quan tâm và thực hiện dự án đầu tư trong KCN. KCN gắn với phát triển khu đô thị 1. Quản lý nhà nước đối với KCN 1. Khái niệm về Quản lý hành chính nhà nước 20 Theo Lương Thanh Cường và các cộng sự: “Hành chính nhà nước là hoạt động thực thi quyền hành pháp của nhà nước, đó là hoạt động chấp hành và điều hành của hệ thống hành chính nhà nước trong quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật nhằm phụng sự tổ quốc, phục vụ nhân dân, bảo đảm ổn định và thúc đẩy, hỗ trợ phát triển của xã hội” [1].
Hệ thống cơ quan quản lý hành chính nhà nước được tổ chức từ trung ương tới địa phương theo 4 cấp: Chính phủ, UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện, UBND cấp xã. Hoạt động quản lý hành chính được chỉ đạo điều hành thống nhất từ trên xuống dưới để đảm bảo sự phát triển đúng hướng và lợi ích của cả quốc gia. Cơ quan cấp trên có thể trực tiếp tổ chức thực hiện nhiệm vụ hoặc tiến hành phân cấp, phân quyền cho cấp dưới trên cơ sở chức năng nhiệm vụ và địa bàn quản lý được giao. Hoạt động quản lý nhà nước được chỉ đạo, tổ chức thực hiện theo ngành, theo lãnh thổ.
Quản lý nhà nước theo ngành là tập hợp các hoạt động quản lý nhà nước mang tính chuyên môn hóa theo chức năng, quy trình, quy chuẩn, tiêu chuẩn đặc thù nhằm đáp ứng yêu cầu của nhà nước và xã hội. Phân loại theo ngành ngang như các ngành kinh tế, xã hội, khoa học. Phân theo ngành dọc từ trung ương tới cấp tỉnh, cấp huyện theo lĩnh vực chuyên môn, mỗi cơ quan chỉ thực hiện một số công việc nhất định, như: Thuế, Hải quan, Quản lý thị trường. Đứng đầu cơ quan chuyên môn quản lý nhà nước theo ngành là các bộ, tổng cục, cục; đảm nhận trách nhiệm quản lý ngành, chỉ đạo toàn diện chuyên môn nghiệp vụ cho cơ quan, đơn vị trực thuộc.