CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ DUY TU SỬA CHỮA VÀ BẢO DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN CÁC TUYẾN ĐƯỜNG TỈNH 1. Hệ thống đường bộ Mạng lưới giao thông vận tải bao gồm các loại hình sau: Đường bộ, đường sắt, đường thuỷ nội địa, hàng hải, hàng không, đường ống. Trong đó, giao thông đường bộ là phương thức vận tải phổ biến nhất ở tất cả các nước. Nó được hình thành nhằm đáp ứng nhu cầu vận chuyển của nền kinh tế.
Mạng lưới đường bộ được phân chia thành sáu hệ thống, gồm đường quốc lộ, đường tỉnh, đường huyện, đường xã, đường đô thị và đường chuyên dùng đươc mô tả theo hình 1.1 sau đây: Mạng lưới đường bộ Quốc Đường Đường Đường Đường Đường lộ tỉnh huyện xã đô thị chuyên dùng Hình 1. Mạng lưới đường bộ Cách cấu trúc như vậy không chỉ phản ánh tầm quan trọng, vai trò của từng hệ thống trong mạng lưới đường quốc gia mà còn có liên quan trực tiếp tới hoạt động quản lý khai thác các công trình đó. Hệ thống đường quốc lộ là đường nối liền Thủ đô Hà Nội với trung tâm hành chính cấp tỉnh; đường nối liền trung tâm hành chính cấp tỉnh từ ba địa phương trở lên; đường nối liền từ cảng biển Quốc tế, cảng hàng không Quốc tế đến các cửa khẩu Quốc tế, cửa khẩu chính trên đường bộ, đường có vị trí đặc biệt quan trọng đối với sự nghiệp kinh tế - xã hội của của vùng, khu vực. Hệ thống đường tỉnh là đường nối trung tâm hành chính của tỉnh với trung tâm hành chính của huyện hoặc trung tâm hành chính của tỉnh lân cận; đường có vị trí quan trọng đối với sự nghiệp kinh tế - xã hội của tỉnh.
Hệ thống đường huyện là đường nối từ trung tâm hành chính huyện với các 4 trung tâm hành chính của xã, cụm xã hoặc trung tâm hành chính của huyện lân cận; đường có vị trí quan đối với sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của huyện. Hệ thống đường xã là đường nối trung tâm hành chính xã đến các thôn, làng, ấp, bản và các đơn vị tương đương hoặc nối với các xã lân cận; đường có vị trí quan đối với sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của xã. Hệ thống đường đô thị là đường trong phạm vi địa giới hành chính nội thành, nội thị. Hệ thống đường chuyên dùng là đường chuyên phục vụ cho việc vận chuyển, đi lại của một hoặc một số cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Bảo trì đường bộ Các tài liệu về bảo trì và các nhà khoa học xác định vòng đời của công trình xây dựng (CTXD) gồm các giai đoạn sau: Hình 1.2 Sơ đồ mô tả vòng đời công trình xây dựng (CTXD) Là một phần của vòng đời CTXD, nhưng các quy định về bảo trì CTXD được ban hành chậm và thiếu đồng bộ so với các quy định về QLDA đầu tư, quản lý chi phí và quản lý chất lượng CTXD. Trước đây, bảo trì CTXD chỉ được quy định tại một số Điều của Nghị định số 209/2004/NĐ-CP ngày 16/12/2004 (Nghị định 209) và Thông tư số 08/2006/TT-BXD ngày 24/11/2006 của Bộ Xây dựng. Các quy định về bảo trì CTXD trong các văn bản trên chủ yếu phù hợp với bảo trì công trình kiến trúc, xây dựng dân dụng. Do đó các chuyên ngành giao thông, thủy lợi v.
đã ban hành các quy định về bảo trì riêng. Do có bất cập trong các quy định về bảo trì 5 CTXD, nên ngày 06/12/2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 114/2010/NĐ- CP về bảo trì CTXD (gọi tắt là Nghị định 114). Theo thời gian, khái niệm và nội dung bảo trì CTXD đã có những thay đổi, xu hướng ngày càng đầy đủ và sát với yêu cầu của hoạt động bảo trì CTXD: 1.1 Về khái niệm: a) Giai đoạn trước khi ban hành Nghị định 114: - Luật Xây dựng 2003 (Luật XD) và Nghị định 209 không quy định khái niệm bảo trì CTXD, nhưng quy định hoạt động thi công xây dựng bao gồm 2 nhóm chính: (i) Xây dựng, lắp đặt thiết bị đối với công trình xây dựng mới, (ii) Sửa chữa, cải tạo, di dời, tu bổ, phục hồi, phá dỡ, bảo hành, bảo trì đối với công trình đã có (đã xây dựng). Như vậy theo Luật Xây dựng thì bảo trì CTXD thuộc về hoạt động thi công XDCT.
Quan điểm này sau này còn được thay đổi, bởi trong bảo trì còn có các hoạt động như kiểm tra, quan trắc, kiểm định…là các việc không phải XDCT. - Luật GTĐB 2008 quy định “Bảo trì đường bộ là thực hiện các công việc bảo dưỡng và sửa chữa đường bộ nhằm duy trì tiêu chuẩn kỹ thuật của đường đang khai thác”. Thông tư số 10/2010/TT-BGTVT ngày 19/4/2010 của Bộ GTVT quy định: “Bảo trì là tập hợp các hoạt động nhằm duy trì hoạt động bình thường và đảm bảo an toàn sử dụng công trình”. b) Sau khi Nghị định 114 được ban hành, các cơ quan đã thống nhất về khái niệm và nội dung bảo trì CTXD theo quy định tại Nghị định này, cụ thể: “Bảo trì công trình là tập hợp các công việc nhằm đảm bảo và duy trì sự làm việc bình thường, an toàn của công trình theo quy định của thiết kế trong suốt quá trình khai thác sử dụng”.
Yêu cầu công tác bảo trì đường bộ Đường bộ sau khi hoàn thành đầu tư xây dựng mới, nâng cấp, cải tạo, sửa chữa lớn, sửa chữa vừa phải được nghiệm thu, bàn giao, tổ chức quản lý, bảo trì. Thời gian thực hiện quản lý, bảo trì được tính từ ngày chủ đầu tư, chủ quản lý khai thác ký biên bản nghiệm thu bàn giao đưa công trình vào khai thác. Công tác quản lý, bảo trì đường bộ thực hiện theo quy định của quy trình bảo 6 trì, tiêu chuẩn kỹ thuật, định mức quản lý, bảo trì do cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền công bố. Cụ thể như sau: - Đối với những dự án đường bộ xây dựng mới, nâng cấp, cải tạo áp dụng công nghệ mới, vật liệu mới; dự án có chuyển giao công nghệ mới, đường bộ từ cấp II trở lên thì việc lập quy trình bảo trì do nhà thầu thiết kế hoặc nhà thầu cung cấp thiết bị kỹ thuật lập, bàn giao cho cơ quan quản lý đường bộ hoặc tổ chức, cá nhân bảo trì, khai thác đường bộ cùng với hồ sơ hoàn công.
Chi phí cho việc lập quy trình bảo trì được tính vào tổng mức đầu tư của dự án. - Đối với các công trình đường bộ không thuộc các công trình vừa nêu ở trên, các tổ chức, cá nhân thực hiện công tác quản lý, bảo trì đường bộ theo các tiêu chuẩn kỹ thuật và các quy định hiện hành. - Đối với công trình đầu tư theo hình thức: BOT (Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao), BTO (Xây dựng - Chuyển giao - Kinh doanh), BT (Xây dựng - Chuyển giao); Nhà đầu tư phải căn cứ quy mô công trình để lập quy trình bảo trì, gửi tới Cơ quan nhà nước có thẩm quyền ký kết và thực hiện Hợp đồng dự án BOT, BTO, BT. Nhà thầu thực hiện công tác bảo trì đường bộ phải thực hiện đầy đủ yêu cầu về an toàn, vệ sinh và môi trường theo quy định sau: - Khi thực hiện công tác bảo trì phải được cơ quan quản lý đường bộ có thẩm quyền cấp phép thi công, chấp thuận phương án đảm bảo giao thông.
Nhà thầu phải có biện pháp, tiến độ, bố trí thời gian và tổ chức thi công hợp lý, đủ biển báo hiệu, đèn tín hiệu giao thông, phân luồng, phân làn và có người gác hướng dẫn giao thông đảm bảo cho người, phương tiện tham gia giao thông qua lại an toàn, thông suốt; - Trong thời gian thi công thực hiện đầy đủ các quy định về bảo vệ môi trường, an toàn lao động. Công tác bảo trì sau khi nghiệm thu, bàn giao cho cơ quan quản lý đường bộ quản lý khai thác phải được bảo hành trong thời gian 12 tháng đối với sửa chữa định kỳ hoặc bước 2 của sửa chữa đột xuất (là bước nhằm khôi phục đường bộ theo quy mô, tiêu chuẩn kỹ thuật như trước khi xảy ra sự cố hoặc bền vững hóa, kiên cố hóa công trình). Đối với công tác bảo dưỡng thường xuyên, phải đảm bảo hoạt động hiệu quả, an toàn đúng tiêu chuẩn kỹ thuật. Vai trò công tác quản lý, bảo trì đường bộ Như đã phân tích tại Mục 1.1, bảo trì CTXD là một phần của vòng đời CTXD, trong đó có công trình đường bộ (CTĐB).
Vì vậy, muốn duy trì CTĐB giữ được trạng thái khai thác an toàn và đảm bảo tuổi thọ theo tiêu chuẩn thiết kế, thì việc bảo trì là yêu cầu bắt buộc. Đồng thời với thực hiện tốt công tác bảo trì, còn phải thực hiện các công việc quản lý, bảo vệ như tuần tra, kiểm tra, đếm xe, lập, cập nhật hồ sơ quản lý và các nội dung khác sẽ góp phần đảm bảo chất lượng CTĐB. Ngày nay việc duy trì và kéo dài tuổi thọ KCHTGTĐB đã trở thành nội dung quan trọng trong chiến lược quản lý tài sản đường bộ tại nhiều quốc gia. Năm 2011, Chính phủ đã giao Bộ Tài chính sử dụng vốn ODA để xây dựng Nghị định về quản lý, sử dụng và khai thác tài sản KCHTGTĐB, mới đây ngày 11/01/2013 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 10/2013/NĐ-CP Quy định việc quản lý, sử dụng và khai thác tài sản KCHTGTĐB (có hiệu lực từ 01/3/2013).
Do tầm quan trọng của công tác bảo trì, trong Báo cáo cuối kỳ Dự án “Tăng cường về thể chế và tài chính, khai thác và bảo trì, và quả trị ngành đường bộ”(Dự án PATA7611-VIE), Tư vấn PADECO đã đánh giá đối với các nước đang phát triển cần dùng 3% GDP cho đường bộ, trong đó 2,4% GDP cho XD mới và 0,6% GDP cho bảo trì (tỷ lệ Bảo trì/XD = ¼=25%). Trên thực tế vốn bảo trì chưa tương xứng với vốn đầu tư xây dựng mạng lưới đường bộ. Đây là tồn tại xảy ra trong công tác quản lý, bảo trì QL và cả hệ thống đường địa phương. 120% 100% 80% Xây dựng 60% Bảo trì 40% 20% 0% Tư vấn PEDECO kiến nghị 2002 2007 Hình 1.
Cơ cấu vốn danh cho đường bộ trong tổng GDP do Tư vấn PADECO kiến nghị 8 97 GDP Xây dựng Bảo trì 2.4- Vốn bảo trì đường bộ năm 2002 bằng 6% vốn XD, năm 2007 bằng 11% 1.