Tổng quan luận án
Bảo vệ môi trường là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia và toàn thế giới. Tại Việt Nam, quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường cùng sự gia tăng tốc độ công nghiệp hóa, đô thị hóa đã kéo theo nhiều hệ lụy nghiêm trọng về mặt sinh thái. Tình trạng suy thoái môi trường đất, nước, không khí diễn ra gay gắt tại nhiều thành phố lớn, khu công nghiệp trung tâm và khu vực tập trung đông dân cư. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ nguồn nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp chưa qua xử lý xả thẳng ra tự nhiên, tiêu biểu như vụ việc xả nước bẩn của công ty Vedan ra sông Thị Vải. Bên cạnh đó, tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học bị cạn kiệt; diện tích rừng suy giảm; môi trường biển, ven bờ và hải đảo xuống cấp do hoạt động khai thác quá mức mang tính hủy diệt; các sự cố môi trường gia tăng, điển hình là sự cố tràn dầu ven biển Vũng Tàu chưa xác định rõ nguyên nhân.
Để giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường, Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật, bao gồm: Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 và năm 2005; Luật Khoáng sản năm 1996, 2005, 2010; Luật Tài nguyên nước năm 1998, 2004; Luật Thủy sản năm 2003; Luật Xây dựng năm 2003 (sửa đổi, bổ sung năm 2009); Luật Đất đai năm 2003; Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004. Đi kèm với các luật này là hệ thống Nghị định quy định chế tài và bộ máy thực thi như: Nghị định số 117/2009/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; Nghị định số 113/2010/NĐ-CP về xác định thiệt hại đối với môi trường; Nghị định số 67/2003/NĐ-CP về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải; Nghị định số 26/2003/NĐ-CP về xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ và kiểm dịch thực vật; Nghị định số 50/2002/NĐ-CP trong lĩnh vực du lịch; Nghị định số 19/2001/NĐ-CP trong lĩnh vực an toàn và kiểm soát bức xạ; Nghị định số 65/2006/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Thanh tra Tài nguyên và Môi trường.
Dù khung pháp luật đã từng bước được thiết lập, các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường vẫn diễn biến phức tạp. Nguyên nhân căn bản là do hệ thống pháp luật hiện hành bộc lộ nhiều điểm bất cập, quy định còn mang tính chung chung, thiếu cụ thể. Pháp luật trong một số lĩnh vực chuyên biệt còn phân tán, chồng chéo và tồn tại nhiều khoảng trống, điển hình là quy chế quản lý môi trường biển thiếu quy hoạch tổng thể. Quy định về xác định thiệt hại mới dừng lại ở các tổn thất vật chất đo đếm được trước mắt, hoàn toàn thiếu cơ chế xác định mức độ thiệt hại lâu dài; quy định về nguồn kinh phí bồi thường và khắc phục ô nhiễm chưa thống nhất. Bản chất pháp lý của trách nhiệm khắc phục hậu quả ô nhiễm môi trường vẫn còn là vấn đề tranh cãi giữa trách nhiệm hành chính và trách nhiệm dân sự. Thêm vào đó, hệ thống cơ quan áp dụng chế tài bị chồng chéo về chức năng, thẩm quyền; mức xử phạt chưa đủ sức răn đe các chủ thể vi phạm. Đây chính là khoảng trống lập pháp và thực tiễn đòi hỏi phải nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định cụ thể như sau:
- Nghiên cứu sâu cơ sở lý luận về trách nhiệm pháp lý và pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; làm rõ khái niệm trách nhiệm theo nghĩa tích cực và nghĩa tiêu cực, các đặc trưng và tiêu chí hoàn thiện.
- Khảo sát, đánh giá tổng quan thực trạng pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay, phân tích mối liên hệ tương tác giữa ba phân ngành: trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính và trách nhiệm dân sự.
- Nghiên cứu trường hợp vi phạm thực tế của công ty Vedan nhằm nhận diện rõ các vướng mắc, bất cập của hệ thống pháp luật thực định.
- Khảo cứu pháp luật về trách nhiệm pháp lý môi trường của một số quốc gia trên thế giới để rút ra bài học kinh nghiệm.
- Đề xuất các quan điểm và giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở nước ta.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các vấn đề lý luận về môi trường và hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, bao gồm trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự và thực tiễn áp dụng các quy định này.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn ở các khía cạnh:
- Về nội dung lý luận: Tập trung phân tích khái niệm trách nhiệm pháp lý theo cả nghĩa tích cực và tiêu cực, trong đó đi sâu vào trách nhiệm pháp lý theo nghĩa tiêu cực (chế tài cưỡng chế nhà nước đối với hành vi vi phạm đã xảy ra).
- Về nội dung thực định: Khảo sát các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam về chế tài hình sự, hành chính, dân sự trong bảo vệ môi trường; xem xét vụ việc ô nhiễm của công ty Vedan; tham khảo pháp luật của Singapore, Thái Lan và Trung Quốc.
- Về thời gian và không gian: Tập trung vào giai đoạn từ năm 2003 đến thời điểm nghiên cứu (khoảng năm 2011 - 2012) trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong luận án, tác giả đã tiến hành điểm luận và phân loại các công trình nghiên cứu đi trước thành các nhóm chủ đề cụ thể:
Nhóm nghiên cứu về bảo vệ môi trường dưới góc độ quản lý kinh tế và tổ chức bộ máy:
- Cuốn sách "Tiến tới kiện toàn hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường ở Việt Nam" (NXB Chính trị Quốc gia, 2001) do GS.VS. Phạm Minh Hạc và GS. Nguyễn Hữu Tăng chủ biên, nghiên cứu mô hình tổ chức bộ máy quản lý môi trường từ trung ương đến địa phương và kinh nghiệm quốc tế.
- Cuốn sách "Quản lý môi trường" (NXB Lao động - Xã hội, 2002) của PGS.TS. Nguyễn Đức Khiển.
- Sách "Những nội dung cấm vi phạm theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường" (NXB Thanh niên, 2003) do Cục Bảo vệ môi trường phối hợp cùng Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp biên soạn, tập hợp hệ thống hóa các điều cấm trong hoạt động tác động tới môi trường.
- Công trình "Một số vấn đề bảo vệ môi trường với phát triển kinh tế ở nước ta hiện nay" (NXB Chính trị Quốc gia, 2004) của Nguyễn Văn Gừng, luận giải mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường.
- "Tuyển tập các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường" (NXB Thanh niên, 2004) do Cục Bảo vệ Môi trường tổng hợp.
- Sách "Quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân về bảo vệ môi trường" (NXB Tư pháp, 2005) của Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp.
- Cuốn "Kiểm tra của cơ quan hành chính nhà nước đối với việc thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay" (NXB Tư pháp, 2005) của TS. Phạm Văn Lợi (chủ biên) và PGS.TS. Nguyễn Văn Động, tập trung vào công tác kiểm tra hành chính.
- Sách "Kinh tế môi trường" (NXB Tài chính, 2008) của ThS. Bùi Văn Quyết.
- Các Báo cáo môi trường quốc gia hàng năm từ 2005 đến 2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường theo các chuyên đề: Đa dạng sinh học (2005), Môi trường nước lưu vực sông Cầu, Nhuệ - Đáy, hệ thống sông Đồng Nai (2006), Môi trường không khí đô thị (2007), Môi trường làng nghề (2008), Môi trường khu công nghiệp (2009), và Báo cáo tổng hợp giai đoạn 2006 - 2010.
Nhóm nghiên cứu lý luận chung về trách nhiệm pháp lý:
- Tài liệu nước ngoài: Công trình "Cơ sở pháp lý của trách nhiệm trong quản lý ở Liên Xô và Cộng hòa Dân chủ Đức" (Mát-xcơ-va, 1986); bài viết "Chế định trách nhiệm trong quản lý" của Batrilo I.L. trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật Liên Xô (số 6, 1977); cuốn sách "Vi phạm pháp luật: khái niệm, nguyên nhân, trách nhiệm" của Malein H.C. (Mát-xcơ-va, 1985); bài viết về trách nhiệm tài sản của các chủ thể quản lý trong cuốn "Trách nhiệm quản lý" (Mát-xcơ-va, 1985).
- Tài liệu trong nước: Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật của Trường Đại học Luật Hà Nội và Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội; "Giải đáp pháp luật – Luật hành chính Việt Nam" (1995) của GS.TS. Phạm Hồng Thái và Đinh Văn Mậu; bài viết "Trách nhiệm pháp lý" của Hoàng Thị Ngân trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp (số 2, 2000); bài viết của GS.TS. Hoàng Thị Kim Quế về trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm đạo đức trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật (số 3, 2000); nghiên cứu "Trách nhiệm Hiến pháp" của Bùi Ngọc Sơn trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp (số 4, 2003).
Nhóm nghiên cứu chuyên biệt về từng phân ngành trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực môi trường:
- Về trách nhiệm hình sự: Đề tài "Chính sách hình sự đối với các tội phạm môi trường" của GS.TSKH. Đào Trí Úc và GS.TS. Võ Khánh Vinh; bài viết "Trách nhiệm hình sự đối với tội phạm môi trường theo pháp luật hiện hành" của GS.TS. Võ Khánh Vinh; "Nhận thức chung về tội phạm môi trường và một số vấn đề liên quan" (Tạp chí Khoa học Pháp lý, 2002) của Trần Lê Hồng; bài viết của PGS.TS. Phạm Hồng Hải về tội phạm hóa hành vi xâm hại môi trường (Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 6, 2001); cuốn sách "Tội phạm môi trường một số vấn đề lý luận và thực tiễn" (NXB Chính trị Quốc gia, 2004) của TS. Phạm Văn Lợi; bài viết của Nguyễn Thị Tố Uyên trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (số 10, 2010); Luận án tiến sĩ luật học "Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về môi trường" (2011) của NCS. Dương Thanh An do GS. Đào Trí Úc hướng dẫn.
- Về trách nhiệm dân sự: Đề tài "Nghiên cứu hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp môi trường" (2000) của Cục Môi trường; bài viết "Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực bảo vệ môi trường" (Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, 2002) và "Nâng cao hiệu lực thi hành pháp luật bảo vệ môi trường" (Tạp chí Bảo vệ Môi trường, 2006) của PGS.TS. Phạm Hữu Nghị; bài viết của Đinh Mai Phương (Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 12, 2003); bài viết của Trần Thắng Lợi về trách nhiệm pháp lý môi trường ở một số nước (2004); nghiên cứu của Nguyễn Xuân Anh trên Tạp chí Tòa án nhân dân (số 4, 2005); bài viết của TS. Vũ Thu Hạnh và ThS. Trần Thị Thu Trang về phương thức giải quyết tranh chấp môi trường ở Australia; nghiên cứu của TS. Vũ Thu Hạnh về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường (Tạp chí Khoa học Pháp lý ĐH Luật TP.HCM, số 3, 2007); bài viết của Nguyễn Thị Tố Uyên (Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 7, 2011); Đề tài nghiên cứu cấp bộ "Pháp luật về bảo vệ môi trường" (2008) của Vụ Pháp chế - Bộ Tài nguyên và Môi trường.
- Về trách nhiệm hành chính: Luận văn thạc sĩ luật học "Trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay" của Nguyễn Văn Việt do GS.TS. Phạm Hồng Thái hướng dẫn; bài viết "Sự cần thiết phải hoàn thiện các quy định về trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam" của Nguyễn Tố Uyên trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (tháng 4, 2012).
Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định là: Cho đến thời điểm tác giả thực hiện đề tài, các công trình khoa học trong và ngoài nước chủ yếu tiếp cận vấn đề môi trường dưới góc độ quản lý kinh tế hoặc mới chỉ nghiên cứu từng khía cạnh chế tài độc lập, đơn lẻ (chuyên sâu về trách nhiệm hình sự, dân sự hoặc hành chính). Hoàn toàn chưa có một công trình nào nghiên cứu tổng quát, bao quát toàn diện cả ba loại trách nhiệm pháp lý nói trên trong mối liên hệ biện chứng thống nhất, cũng như chưa có nghiên cứu hệ thống về việc hoàn thiện pháp luật trách nhiệm pháp lý môi trường tại Việt Nam. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này nhằm tạo ra một công trình nghiên cứu chuyên khảo toàn diện đầu tiên trong khoa học pháp lý nước nhà.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng cơ sở lý luận dựa trên quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về nhà nước và pháp luật, đặc biệt là mối quan hệ giữa tự nhiên và xã hội, trong đó điều kiện địa lý, dân số và phương thức sản xuất quyết định sự tồn tại, phát triển của loài người.
Tác giả khảo sát 5 quan điểm lý thuyết khác nhau về khái niệm môi trường và lựa chọn tiếp cận định nghĩa pháp lý theo khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005: "Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật". Hoạt động bảo vệ môi trường được tiếp cận theo khoản 3 Điều 3 luật này.
Về lý luận trách nhiệm pháp lý, luận án phân tích khái niệm theo hai khía cạnh:
- Trách nhiệm theo nghĩa tích cực: Là nghĩa vụ, bổn phận, chức trách được pháp luật ấn định mà các chủ thể phải chủ động thực hiện trong quan hệ pháp luật hiện tại.
- Trách nhiệm theo nghĩa tiêu cực: Là hậu quả bất lợi mang tính trừng phạt của nhà nước mà cá nhân, tổ chức phải gánh chịu khi vi phạm pháp luật, thể hiện qua việc nhà nước áp dụng các biện pháp cưỡng chế đối với hành vi đã xảy ra trong quá khứ. Luận án chọn tập trung vào nghĩa tiêu cực này để xây dựng khung phân tích.
Bên cạnh đó, luận án quán triệt các quan điểm chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về bảo vệ môi trường được nêu trong: Kế hoạch quốc gia về môi trường và phát triển bền vững 1991 - 2000; Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 25/6/1998 của Bộ Chính trị khóa VIII; Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 (Đại hội IX); Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị khóa IX về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Phương pháp nghiên cứu thực tế được luận án áp dụng gồm:
- Phương pháp duy vật biện chứng: Được sử dụng để phân tích mối liên hệ tương hỗ, sự chuyển hóa và kết hợp giữa trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính và trách nhiệm dân sự.
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Dùng để làm rõ các khái niệm khoa học pháp lý, xác lập nội dung, phạm vi tác động và các đặc trưng của pháp luật trách nhiệm pháp lý trong bảo vệ môi trường.
- Phương pháp thống kê: Thu thập, tổng hợp và lượng hóa số liệu thực trạng suy thoái môi trường và tình hình vi phạm, xử lý vi phạm pháp luật môi trường tại Việt Nam.
- Phương pháp phân tích thuần túy quy phạm: Rà soát, mổ xẻ nội dung các quy phạm pháp luật thực định về chế tài hình sự, hành chính, dân sự trong các luật và văn bản dưới luật của Việt Nam.
- Phương pháp so sánh pháp luật: Đối chiếu quy định pháp luật môi trường của Việt Nam với pháp luật của Singapore, Thái Lan và Trung Quốc nhằm tìm kiếm các bài học kinh nghiệm lập pháp phù hợp.
Nguồn tư liệu và dữ liệu nghiên cứu bao gồm: Các văn bản luật và nghị định chuyên ngành của Việt Nam từ năm 1993 đến năm 2010; các báo cáo thanh tra thực hiện Luật Bảo vệ môi trường của Bộ Tài nguyên và Môi trường; số liệu thống kê từ các Sở Tài nguyên và Môi trường địa phương; các Báo cáo môi trường quốc gia giai đoạn 2005 - 2010; tài liệu hồ sơ thực tế vụ vi phạm môi trường của công ty Vedan; các đạo luật môi trường và bộ luật hình sự của Singapore, Thái Lan, Trung Quốc.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chương 1 tập trung phân tích bối cảnh suy thoái môi trường thực tế tại Việt Nam, nêu bật tình trạng ô nhiễm báo động tại các đô thị, cụm công nghiệp và làng nghề thủ công truyền thống. Luận án trích dẫn các số liệu thống kê thanh tra chính thức từ Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng Sở Tài nguyên và Môi trường các địa phương để minh chứng cho thực trạng vi phạm pháp luật môi trường:
| Tiêu chí thống kê thanh tra môi trường |
Giá trị / Tỷ lệ thực tế |
| Số cơ sở bị xử phạt và yêu cầu xử lý ô nhiễm triệt để |
439 cơ sở |
| Cơ sở đã xử lý đạt yêu cầu |
156 cơ sở (chiếm 36%) |
| Cơ sở đã và đang triển khai biện pháp xử lý |
218 cơ sở (chiếm 49%) |
| Cơ sở chưa có biện pháp xử lý đáng kể nào |
65 cơ sở (chiếm 15%) |
| Tỷ lệ cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng thuộc bộ, ngành xử lý triệt để |
Đạt kết quả thấp (trung bình 40%) |
| Tỉnh có trên 50% cơ sở phải xử lý hoàn thành triệt để (giai đoạn 2003 - 2005) |
17/29 tỉnh |
| Tỉnh có trên 50% cơ sở hoàn thành xử lý triệt để (giai đoạn 2003 - 2007) |
20/63 tỉnh |
| Tỷ lệ cơ sở có phát sinh nước thải bỏ qua việc xin cấp giấy phép xả thải |
100% cơ sở |
| Tỷ lệ doanh nghiệp phát thải khí không có thiết bị xử lý chất nguy hại |
100% doanh nghiệp |
| Tỷ lệ doanh nghiệp không chấp hành quy định báo cáo ĐTM hoặc cam kết BVMT |
55% - 70% doanh nghiệp |
Tác giả chỉ ra rằng ô nhiễm làng nghề đang ở mức "báo động đỏ" do công nghệ thủ công lạc hậu, thiếu mặt bằng sản xuất và thiếu cơ chế giám sát. Tại các khu công nghiệp, việc gây ô nhiễm nguồn nước và khói bụi đã làm bùng phát các xung đột xã hội gay gắt giữa cư dân lân cận với cơ sở sản xuất.
Tiếp đó, chương này điểm luận chi tiết toàn bộ các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài (như đã nêu ở phần tổng quan tài liệu). Qua đó, tác giả khẳng định các công trình đã công bố chỉ dừng lại ở phạm vi hẹp dưới góc độ quản lý kinh tế hoặc phân tích đơn lẻ một phân nhánh chế tài, khẳng định sự cần thiết phải tiến hành nghiên cứu tổng thể pháp luật về trách nhiệm pháp lý môi trường.
Chương 2: Cơ sở lý luận của việc hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Chương 2 luận giải các vấn đề lý luận nền tảng. Tác giả phân tích 5 quan điểm về môi trường:
- Quan điểm xem môi trường là sinh quyển, sinh thái và nơi chứa đựng tài nguyên phục vụ lao động sản xuất.
- Quan điểm xem môi trường là tổng hợp các điều kiện bên ngoài ảnh hưởng đến sự tồn tại, phát triển của sinh vật và con người.
- Quan điểm xác định môi trường là tập hợp các nhân tố vật lý, hóa học, sinh học, xã hội tại một thời điểm nhất định, có tính biến đổi theo thời gian.
- Quan điểm dựa trên triết học Mác - Lênin về điều kiện địa lý, dân số và phương thức sản xuất.
- Quan điểm theo khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 (được tác giả chọn làm căn cứ nghiên cứu).
Về khái niệm trách nhiệm pháp lý, tác giả làm rõ bản chất của trách nhiệm tích cực (quyền, nghĩa vụ và bổn phận BVMT) và trách nhiệm tiêu cực (chế tài cưỡng chế trừng phạt đối với vi phạm). Trách nhiệm pháp lý tiêu cực gồm 4 đặc điểm:
- Cơ sở là hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường.
- Chứa đựng sự lên án của nhà nước và xã hội đối với chủ thể vi phạm.
- Liên quan mật thiết với biện pháp cưỡng chế nhà nước mang tính trừng phạt hoặc khôi phục quyền bị xâm phạm.
- Cơ sở pháp lý là quyết định có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra định nghĩa: Pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường là hệ thống các quy tắc xử sự bắt buộc do nhà nước ban hành, điều chỉnh quan hệ giữa nhà nước (thông qua cơ quan có thẩm quyền) với chủ thể vi phạm pháp luật môi trường, buộc chủ thể vi phạm phải gánh chịu các biện pháp trách nhiệm tại phần chế tài của quy phạm.
Tác giả khái quát 8 đặc trưng riêng biệt của pháp luật trách nhiệm pháp lý môi trường:
- Thứ nhất: Đối tượng tác động rất rộng, bao quát mọi thành phần môi trường (đất, nước, không khí, sinh vật, hệ sinh thái...).
- Thứ hai: Đối tượng điều chỉnh là các tổ chức, cá nhân vi phạm (chủ yếu là các cơ sở sản xuất kinh doanh).
- Thứ ba: Rất khó xác định hành vi và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại, do hậu quả ô nhiễm thường không xuất hiện ngay mà kéo dài âm thầm qua thời gian.
- Thứ tư: Có mối quan hệ chặt chẽ với hệ thống tiêu chuẩn môi trường; tiêu chuẩn môi trường vừa là công cụ kỹ thuật vừa là công cụ pháp lý xác định ranh giới vi phạm.
- Thứ năm: Rất khó xác định lỗi khi có sự cộng gộp chất thải của nhiều chủ thể trong cùng một khu vực (ví dụ nhiều nhà máy cùng xả thải dưới ngưỡng nhưng tổng lượng chất thải lại gây ô nhiễm nặng).
- Thứ sáu: Quy định cụ thể các nhóm hành vi vi phạm (không thực hiện ĐTM, vi phạm bảo vệ tài nguyên, xuất nhập khẩu thiết bị/hóa chất độc hại, vi phạm an toàn sự cố môi trường, vi phạm vệ sinh công cộng).
- Thứ bảy: Hậu quả của hành vi vi phạm thường biểu hiện dưới dạng ô nhiễm, suy thoái hoặc sự cố môi trường.
- Thứ tám: Có sự đan xen, bổ sung giữa trách nhiệm hình sự, hành chính và dân sự. Chế tài hình sự và hành chính có tính chất loại trừ lẫn nhau đối với cùng một hành vi (nguyên tắc không xử phạt hai lần), nhưng cả hai đều có thể áp dụng đồng thời với trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại. Trách nhiệm hành chính là công cụ phổ biến và hữu hiệu nhất trên thực tế.
Nội dung chương 2 cũng tổng hợp quan điểm của Đảng qua Kế hoạch 1991 - 2000, Chỉ thị 36, Chiến lược 2001 - 2010 và Nghị quyết 41. Bốn nhiệm vụ trọng tâm được chỉ đạo bao gồm: xây dựng văn hóa ứng xử thân thiện với môi trường; kiên quyết "nói không" với tăng trưởng kinh tế bằng mọi giá; hoàn thiện pháp luật đất đai, nguồn nước; tiến tới xây dựng Bộ luật Môi trường thống nhất.
Cuối chương 2, tác giả nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế:
- Singapore: Lấy chế tài hình sự làm công cụ cơ bản; cấu thành tội phạm chủ yếu là cấu thành hình thức; áp dụng trách nhiệm hình sự cho cả thể nhân và pháp nhân; phân loại thành trách nhiệm tương đối và trách nhiệm tuyệt đối (không cần chứng minh lỗi chủ quan trong một số trường hợp như vứt rác); áp dụng rộng rãi hình phạt tiền (vứt rác lần đầu phạt tới 10.000 USD, tái phạm phạt tới 20.000 USD, cho phép trả tiền phạt cho Bộ Môi trường để đình chỉ vụ việc không cần ra tòa); áp dụng phạt tù và phạt lao động cải tạo bắt buộc (áp dụng cho người từ 16 tuổi trở lên đủ điều kiện y tế); chế tài hành chính khẩn cấp theo Điều 90 Luật BVMT trao quyền cho cơ quan thẩm quyền can thiệp ngay lập tức; giám sát tiếng ồn công trường (phạt tối đa 2.000 USD, tái phạm phạt 100 USD/ngày); chế tài dân sự theo Điều 97 cho phép chính phủ thu hồi chi phí làm sạch môi trường trong vòng 14 ngày.
- Thái Lan: Tội phạm môi trường chưa được quy định chi tiết trong Bộ luật Hình sự (chỉ có Điều 237 và 239 quy định khung hình phạt tù không quá 1 năm hoặc phạt tiền không quá 2.000 baht hoặc cả hai nếu có lỗi bất cẩn gây nguy hiểm cho tính mạng); các chế tài hình sự, hành chính, dân sự chủ yếu được quy định trực tiếp trong các luật chuyên ngành như Luật Nguồn nước, Luật Chất lượng môi trường, Luật Nhà máy, Luật Chất thải nguy hại.
- Trung Quốc: Đưa các tội phạm môi trường vào Bộ luật Hình sự năm 1997 tại Tiết 6 thuộc Chương Các tội xâm phạm trật tự quản lý xã hội (từ Điều 338 đến Điều 346) chia thành 3 nhóm hành vi: gây ô nhiễm môi trường (Điều 338, 339); xâm hại tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học (Điều 340 đến 344); quy định khung hình phạt theo số lượng tương đối lớn và đặc biệt lớn (Điều 345, 346). Một số tội danh như Điều 338, 342, 343 có cấu thành vật chất, đòi hỏi dấu hiệu hậu quả bắt buộc.
Chương 3: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Chương 3 đi sâu đánh giá thực trạng các quy phạm pháp luật thực định và tình hình áp dụng trên thực tế tại Việt Nam:
- Đánh giá các quy định về tội phạm môi trường trong Bộ luật Hình sự năm 1999, chỉ ra sự thiếu vắng chế tài hình sự áp dụng đối với pháp nhân khiến nhiều cơ sở kinh tế gây ô nhiễm nghiêm trọng không thể bị xử lý hình sự.
- Phân tích chế tài hành chính theo Nghị định số 117/2009/NĐ-CP và tổ chức thanh tra môi trường theo Nghị định số 65/2006/NĐ-CP; chỉ rõ sự chồng chéo thẩm quyền giữa các lực lượng thanh tra chuyên ngành, lực lượng cảnh sát môi trường và chính quyền địa phương, cùng mức xử phạt bằng tiền chưa đủ bù đắp chi phí vận hành hệ thống xử lý chất thải.
- Phân tích chế định bồi thường thiệt hại dân sự theo Nghị định số 113/2010/NĐ-CP; nhận diện khó khăn trong việc thu thập chứng cứ, thẩm định mức độ thiệt hại sinh thái và cơ chế khởi kiện tập thể của người dân.
- Mổ xẻ vụ án ô nhiễm sông Thị Vải của công ty Vedan: Minh chứng thực tế cho thấy sự bế tắc, lúng túng của các cơ quan quản lý trong việc phân định trách nhiệm bồi thường dân sự với xử lý hành chính, quá trình thương lượng kéo dài và bất cập trong việc áp dụng các chế tài pháp lý hiện hành.
Chương 4: Giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Chương 4 đề xuất các nhóm giải pháp xuất phát từ các bất cập đã chỉ ra:
- Hoàn thiện thể chế pháp luật môi trường theo hướng đồng bộ, thống nhất, khắc phục tình trạng phân tán; chuẩn bị các điều kiện pháp lý tiến tới xây dựng Bộ luật Môi trường.
- Bổ sung quy định truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân vào Bộ luật Hình sự đối với các hành vi cố ý gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
- Rà soát, nâng cao mức phạt tiền trong các nghị định xử phạt vi phạm hành chính, bảo đảm mức phạt phải cao hơn chi phí đầu tư, vận hành hệ thống xử lý chất thải để triệt tiêu động cơ vi phạm.
- Hoàn thiện cơ chế bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do ô nhiễm môi trường gây ra; ban hành quy chuẩn tính toán thiệt hại lâu dài đối với hệ sinh thái và sức khỏe con người; xây dựng quỹ bảo vệ môi trường từ nguồn kinh phí bồi thường và ký quỹ.
- Phân định rành mạch chức năng, thẩm quyền xử phạt và thanh tra giữa các cơ quan quản lý nhà nước; tăng cường ứng dụng khoa học kỹ thuật trong công tác quan trắc, phát hiện và xử lý vi phạm.
Kết quả và những đóng góp mới
Theo nội dung luận án tự xác định, công trình có các điểm đóng góp mới cụ thể sau:
- Luận án đã làm rõ khái niệm trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở hai bình diện "tích cực" và "tiêu cực", trong đó đi sâu luận giải trách nhiệm tiêu cực; xác lập định nghĩa "pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường", hình thức biểu hiện, phạm vi tác động và đối tượng điều chỉnh của lĩnh vực pháp luật này.
- Luận án đã khái quát hóa hệ thống 8 đặc trưng riêng biệt của trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, cung cấp cơ sở lý luận cho việc xây dựng và hoàn thiện chính sách pháp luật.
- Xác định hệ thống các yêu cầu và tiêu chí khoa học làm căn cứ cho việc hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực môi trường.
- Đánh giá tương đối toàn diện thực trạng hệ thống pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng các biện pháp trách nhiệm pháp lý (hình sự, hành chính, dân sự) tại Việt Nam, kết hợp phân tích sâu sắc các vụ việc vi phạm điển hình (như vụ công ty Vedan).
- Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong bảo vệ môi trường tại Việt Nam trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế từ Singapore, Thái Lan và Trung Quốc.
Về kiến nghị, luận án đề xuất sửa đổi, bổ sung các luật chuyên ngành, tăng cường chế tài xử phạt hành chính, cụ thể hóa trách nhiệm hình sự của pháp nhân, chuẩn hóa phương pháp định lượng thiệt hại môi trường và tiến tới xây dựng Bộ luật Môi trường.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án gắn liền với phạm vi nghiên cứu được xác định trong văn bản:
- Luận án chỉ tập trung nghiên cứu sâu trách nhiệm pháp lý theo nghĩa tiêu cực (chế tài cưỡng chế sau vi phạm), chưa mở rộng phân tích toàn diện cơ chế thúc đẩy trách nhiệm tích cực của các chủ thể xã hội.
- Việc tính toán và định lượng mức độ thiệt hại môi trường lâu dài vẫn còn là bài toán phức tạp do thiếu các công thức kỹ thuật và quy chuẩn chuyên biệt tại thời điểm nghiên cứu.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở từ văn bản:
- Tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện cơ chế trách nhiệm pháp lý tích cực của các doanh nghiệp và cộng đồng.
- Xây dựng các mô hình toán học và công cụ kỹ thuật để tính toán thiệt hại môi trường lâu dài, phục vụ cho việc giải quyết tranh chấp bồi thường dân sự.
- Nghiên cứu mô hình cấu thành tội phạm và quy trình tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội về môi trường khi sửa đổi Bộ luật Hình sự.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cho:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên chuyên ngành Luật học, đặc biệt là các bộ môn Luật Môi trường, Luật Hành chính, Luật Hình sự, Luật Dân sự và Lý luận Nhà nước và Pháp luật.
- Giảng viên các cơ sở đào tạo luật khi xây dựng giáo trình, bài giảng về pháp luật môi trường và trách nhiệm pháp lý.
- Cán bộ làm công tác lập pháp, hoạch định chính sách tại Bộ Tư pháp, Bộ Tài nguyên và Môi trường và các cơ quan của Quốc hội trong quá trình sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường và Bộ luật Hình sự.
- Lực lượng thanh tra tài nguyên và môi trường, cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường, thẩm phán Tòa án nhân dân các cấp khi xử lý vi phạm và giải quyết bồi thường thiệt hại môi trường trên thực tế.
Nội dung đáng tham khảo nhất là hệ thống 8 đặc trưng của trách nhiệm pháp lý môi trường, sự phân định mối quan hệ tương hỗ giữa ba loại chế tài (hình sự, hành chính, dân sự) và kinh nghiệm lập pháp của Singapore, Thái Lan, Trung Quốc.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án lựa chọn định nghĩa khái niệm môi trường theo căn cứ nào?
Luận án khảo sát 5 quan điểm lý luận khác nhau và lựa chọn tiếp cận khái niệm môi trường theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 của Việt Nam: "Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật".
2. Điểm đặc thù trong việc áp dụng chế tài hình sự và hành chính đối với hành vi vi phạm môi trường là gì?
Chế tài hành chính và hình sự đều mang tính chất trừng phạt của nhà nước và áp dụng độc lập, loại trừ lẫn nhau đối với cùng một hành vi vi phạm (đảm bảo nguyên tắc một hành vi chỉ bị xử phạt một lần). Tuy nhiên, cả hai hình thức này đều có thể được áp dụng kết hợp đồng thời với chế tài dân sự (buộc bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả).
3. Khó khăn lớn nhất trong việc xác định lỗi và thiệt hại môi trường được luận án chỉ ra là gì?
Khó khăn lớn nhất là hậu quả ô nhiễm thường không xuất hiện ngay mà tích tụ kéo dài, khó xác định mối quan hệ nhân quả. Đồng thời, rất khó xác định lỗi khi chất thải của từng nhà máy riêng lẻ đều đạt chuẩn nhưng tổng lượng chất thải cộng gộp của cả khu công nghiệp lại vượt ngưỡng và gây ô nhiễm nghiêm trọng.
4. Pháp luật Singapore có điểm gì nổi bật về trách nhiệm pháp lý môi trường mà luận án đã khảo cứu?
Singapore coi chế tài hình sự là công cụ cơ bản với cấu thành hình thức; áp dụng cho cả thể nhân và pháp nhân; phân loại trách nhiệm tương đối và tuyệt đối (không cần chứng minh lỗi ý thức trong một số vi phạm); áp dụng mức phạt tiền rất cao (đổ rác phạt từ 10.000 đến 20.000 USD); áp dụng phạt lao động cải tạo bắt buộc; và quy định quyền khẩn cấp can thiệp ngay lập tức theo Điều 90 của Luật BVMT.
5. Luận án sử dụng những dữ liệu thống kê nào để chứng minh thực trạng vi phạm pháp luật môi trường tại Việt Nam?
Luận án sử dụng dữ liệu thanh tra của Bộ Tài nguyên và Môi trường giai đoạn từ năm 2003: trong 439 cơ sở bị xử phạt, chỉ có 36% cơ sở xử lý đạt yêu cầu; 100% cơ sở có nước thải không xin cấp phép xả thải; 100% doanh nghiệp phát thải khí không có thiết bị xử lý chất nguy hại; và 55% - 70% doanh nghiệp không chấp hành quy định báo cáo ĐTM hoặc cam kết BVMT.
Kết luận
Luận án "Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam" là công trình nghiên cứu hệ thống và toàn diện đầu tiên dưới góc độ khoa học pháp lý về cơ chế trách nhiệm pháp lý môi trường tại Việt Nam. Bằng việc phân tích sâu sắc cơ sở lý luận, hệ thống hóa các đặc trưng bản chất và khảo cứu kinh nghiệm quốc tế, tác giả đã làm sáng tỏ mối liên hệ giữa các chế tài hình sự, hành chính và dân sự. Công trình cung cấp các luận cứ khoa học thực tiễn vững chắc, đóng góp trực tiếp vào định hướng hoàn thiện thể chế pháp luật môi trường và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước tại Việt Nam.