phần mở đầu, phần kết luận, luận văn được trình bày trong 4 chƣơng. Cụ thể như sau : Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cở sở lý luận chung về công tác kiểm soát chi NSNN tại Kho bạc Nhà nƣớc Chƣơng 2: Thiết kế và phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Thực trạng công tác kiểm soát Chi NSNN tại Kho bạc Nhà nƣớc Hoàng Mai. Chƣơng 4: Định hƣớng và giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kiểm soát Chi NSNN tại KBNN Hoàng Mai 4 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI NSNN TẠI KHO BẠC NHÀ NƢỚC 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu Đề tài kiểm soát chi NSNN qua KBNN là vấn đề quan trọng luôn được quan tâm, nghiên cứu. Trong phạm vi cả nước đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về quản lý chi và kiểm soát chi NSNN qua KBNN, có thể được kể đến như: Bài viết “Quy trình kiểm soát chi ngân sách Nhà nước qua KBNN: Những đề xuất và giải pháp”, của tác giả Hoàng Thị Xuân, Tạp chí Quản lý Ngân quỹ Quốc gia số 110(8/2011). Trong bài viết này tác giả đã nêu ra các bước trong kiểm soát chi ngân sách, từ đó chỉ ra những tồn tại cần khắc phục và giải pháp cần thực hiện. Bài viết “Kiểm soát thanh toán vốn đầu tư XDCB: Kết quả và kiến nghị” của tác giả Nguyễn Duy Phương, Tạp chí Quản lý Ngân quỹ Quốc gia (Kho bạc nhà nước) số 108 (6/2011).
Trong nghiên cứu này tác giả đã nêu ra được kiểm soát chi đầu tư XDCB là nhiệm vụ quan trọng của hệ thống KBNN, đưa ra được kết quả đạt được từ đó đề xuất kiến nghị để hoàn thiện công tác kiểm soát thanh toán vốn đầu tưXDCB. Thạc sĩ Phạm Bình với bài viết “Triển khai thực hiện cam kết chi qua Kho bạc Nhà nước trong điều kiện vận hành TABMIS” đăng trên Tạp chí Quản lý Ngân quỹ Quốc gia số 138 tháng 12/2013 đã nhận định quản lý, kiểm soát cam kết chi ngân sách nhà nước là một khâu quan trọng trong chu trình quản lý chi ngân sách nhà nước góp phần từng bước thực hiện cải cách tài 5 z chính công theo hướng công khai, minh bạch và phù hợp với thông lệ và chuẩn mực quốc tế, trên nền tảng vận hành TABMIS. Đề tài “Hoàn thiện công tác kiểm soát chi thường xuyên qua Kho bạc nhà nước Khánh Hòa” của tác giả Đỗ Thị Thu Trang, Luận văn thạc sỹ bảo vệ năm 2012, chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng. Luận văn đã đưa ra được yêu cầu đổi mới của công tác quản lý NSNN trong thời gian tới, đưa ra các giải pháp hoàn thiện công tác kiểm soát chi NSNN qua KBNN Khánh Hòa, đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa công tác quản lý, điều hành NSNN, phù hợp với quá trình cải cách tài chínhcông.
Đề tài “Tăng cường kiểm soát thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản qua Kho bạc nhà nước Tỉnh Quảng Ngãi” của tác giải Dương Thị Ánh Tiên, Luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh bảo vệ năm 2012, chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng. Luận văn đã khảo sát thực trạng công tác kiểm soát thanh toán vốn đầu tư XDCB tại KBNN Quảng Ngãi từ đó đánh giá kết quả đạt được và hạn chế còn tồn tại trong công tác kiểm soát thanh toán vốn đầu tư XDCB. Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường hơn nữa công tác kiểm soát thanh toán vốn đầu tư XDCB tại KBNN Quảng Ngãi. Trong các đề tài khoa học, các công trình nghiên cứu trên, các tác giả đã đề cập đến những vấn đề liên quan đến quản lý NSNN nói chung, quản lý chi NSNN nói riêng, nhưng hiện còn thiếu vắng những công trình nghiên cứu một cách toàn diện trong lĩnh vực kiểm soát chi NSNN qua KBNN.
Đặc biệt, quận Hoàng Mai với những điều kiện đặc thù và hoàn cảnh cụ thể, chưa có các công trình khoa học, các đề tài nghiên cứu sâu, nhằm đưa ra các giải pháp góp phần hoàn thiện kiểm soát chi NSNN qua KBNN trên địa bàn. Cơ sở lý luận về công tác kiểm soát Chi NSNN tại KBNN 1. Khái quát về NSNN NSNN là một phạm trù kinh tế khách quan, ra đời trên cơ sở sự tồn tại và phát triển của Nhà nước. Luật NSNN số 83/2015/QH13ngày25/06/2015 đã xác định: “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”.
NSNN có thể hiểu là một kế hoạch tài chính quốc gia bao gồm chủ yếu các khoản thu và chi của Nhà nước được mô tả dưới hình thức cân đối bằng giá trị tiền tệ. Phần thu thể hiện các nguồn tài chính được huy động vào NSNN; phần chi thể hiện chính sách phân phối các nguồn tài chính đã huy động được để thực hiện mục tiêu kinh tế - xã hội. NSNN được lập và thực hiện cho một thời gian nhất định, thường là một năm và được Quốc hội phê chuẩn thông qua. Về mặt hình thức, hoạt động của NSNN được thể hiện thông qua thu, chi của Nhà nước.
Thu NSNN là quá trình Nhà nước sử dụng quyền lực nhà nước để huy động một bộ phận giá trị của cải xã hội hình thành quỹ ngân sách nhà nước nhằm đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Thu NSNN bao gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí, khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước, khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân, viện trợ và các khoản thu khác do Nhà nước quy định. Chi NSNN là quá trình phân phối, sử dụng nguồn vốn của NSNN cho các nhu cầu gắn với việc thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước. Chi NSNN bao gồm các khoản chi phát triển kinh tế - xã hội, chi cho quốc phòng, an ninh, chi hoạt động của bộ máy nhà nước, chi trả nợ của Nhà nước, chi viện trợ, khoản chi khác.
Trong thực tế hoạt động các hình thức thu, chi của NSNN hết sức phong phú và đa dạng, nhưng chúng không hề mang tính tự phát hoặc nằm ngoài sự kiểm soát của Nhà nước mà luôn bị ràng buộc bới những nội dung bên trong hết sức chặt chẽ. 7 z NSNN là khâu tài chính tập trung quan trọng nhất, là kế hoạch tài chính cơ bản, tổng hợp của Nhà nước.Vai trò của NSNN được xác lập trên cơ sở chức năng và nhiệm vụ cụ thể của nó trong từng giai đoạn cụ thể. Phát huy vai trò của NSNN như thế nào là thước đo đánh giá hiệu quả điều hành, lãnh đạo của Nhà nước. Trong nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta hiện nay, NSNN có các vai trò chủ yếu sau: Thứ nhất, với chức năng phân phối, ngân sách có vai trò huy động nguồn tài chính để đảm bảo nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và thực hiện sự cân đối thu chi tài chính của Nhà nước.
Thứ hai, NSNN là công cụ tài chính của Nhà nước góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế, điều chỉnh kinh tế vĩ mô. Nhà nước sử dụng NSNN như là công cụ tài chính để kiềm chế lạm phát, ổn định thị trường, giá cả cũng như giải quyết các nguy cơ tiềm ẩn về bất ổn định kinh tế - xã hội. Thứ ba, NSNN là công cụ tài chính góp phần bù đắp những khiếm khuyết của kinh tế thị trường, đảm bảo công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, thúc đẩy phát triển bền vững. Hệ thống NSNN là tổng thể các cấp ngân sách có mối quan hệ hữu cơ với nhau trong quá trình tổ chức huy động, quản lý các nguồn thu và thực hiện nhiệm vụ chi của mỗi cấp ngân sách.
Ở nước ta, mỗi cấp chính quyền có một cấp ngân sách riêng để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình tại địa phương. Để có một cấp ngân sách thì phải có một cấp chính quyền với những nhiệm vụ toàn diện, đồng thời phải có khả năng nhất định về nguồn thu tại địa phương do cấp chính quyền đó quản lý. Phù hợp với mô hình hệ thống chính quyền nhà nước ta hiên nay, hệ thống ngân sách nhà nước theo luật định bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách các cấp chính quyền địa phương. Ngân sách địa phương bao gồm: ngân sách cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là ngân sách tỉnh); ngân sách huyện, quận, thị xã, 8 z thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là ngân sách huyện); ngân sách cấp xã, phường, thị trấn (gọi chung là ngân sách cấp xã).
NSNN được quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai minh bạch, có sự phân công, phân cấp quản lý và gắn quyền hạn với trách nhiệm. Tổ chức bộ máy hành chính của Nhà nước Việt Nam là thống nhất từ TW đến địa phương, ngân sách cấp dưới là một bộ phận không thể tách rời của ngân sách cấp trên; NSTW và NSĐP hợp thành một chỉnh thể NSNN thống nhất. Nguồn tài chính quốc gia được tạo ra từ một cơ cấu kinh tế thống nhất, được phân bổ trên các vùng lãnh thổ của quốc gia cho nên NSNN là một thể thống nhất, bao gồm toàn bộ các khoản thu, các khoản chi của Nhà nước trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước. Hệ thống tổ chức và quản lý NSNN là thống nhất từ TW đến địa phương dưới sự lãnh đạo và điều hành của Quốc hội và Chính phủ.
Các cơ chế, chính sách thu chi và phương thức quản lý NSNN phải được thực hiện thống nhất do Quốc hội, Chính phủ quy định. Khi đã hình thành hệ thống NSNN gồm nhiều cấp thì việc phân cấp ngân sách là một tất yếu khách quan.Thực chất của phân cấp ngân sách là giải quyết mối quan hệ giữa các cấp chính quyền trong toàn bộ hoạt động của NSNN. Thông qua phân cấp NSNN, quyền hạn, trách nhiệm của mỗi cấp chính quyền trong thu chi NSNN được xác định cụ thể; đồng thời, phân cấp NSNN còn phản ánh mối quan hệ về lợi ích kinh tế giữa các cấp ngân sách, giữa các địa phương, giữa địa phương với quốc gia. Phân cấp ngân sách gắn liền với nội dung phân cấp hành chính.
Phân cấp ngân sách không chỉ tập trung vào việc nâng cao tính tự chủ của chính quyền địa phương mà còn phải hướng đến nâng cao tính trách nhiệm về chính trị, tính hiệu quả và minh bạch.2 Khái niệm và vai trò của Chi ngân sách nhà nƣớc 1.