phần mở đầu và kết luận, nội dung bài khóa luận của em gồm 3 chương: Chƣơng I: Cơ sở lý luận chung về vốn bằng tiền và công tác kế toán vốn bằng tiền tại các doanh nghiệp. Chƣơng II: Tổ chức kế toán vốn bằng tiền tại Công ty Cổ phần thƣơng mại và vận tải Hoàng Tiến Đạt. Chƣơng III: Một số ý kiến nhằm hoàn thiện tổ chức kế toán vốn bằng tiền tại Công ty Cổ phần thƣơng mại và vận tải Hoàng Tiến Đạt. Vì thời gian thực tập có hạn và kiến thức còn hạn hẹp nên bài khóa luận của em chắc chắn không tránh khỏi sai sót, em rất mong nhận được ý kiến đóng Sinh viên: Bùi Thị Ngọc – Msv: 1213401073 – Lớp: QTL602K Page 1 Hoàn thiện công tác kế toán vốn bằng tiền tại Công ty CP TM và VT Hoàng Tiến Đạt góp, sửa chữa của các thầy cô và cán bộ kế toán Công ty Cổ phần thương mại và vận tải Hoàng Tiến Đạt để bài khóa luận của em được hoàn thiện hơn.
Qua đây em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến cô giáo hướng dẫn: Thạc sĩ Lê Thị Nam Phương và các cán bộ kế toán Công ty Cổ phần thương mại và vận tải Hoàng Tiến Đạt đã tận tình hướng dẫn, cung cấp tài liệu giúp em hoàn thiện bài khóa luận này. Em xin chân thành cảm ơn! Sinh viên Bùi Thị Ngọc Sinh viên: Bùi Thị Ngọc – Msv: 1213401073 – Lớp: QTL602K Page 2 Hoàn thiện công tác kế toán vốn bằng tiền tại Công ty CP TM và VT Hoàng Tiến Đạt CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN BẰNG TIỀN VÀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN VỐN BẰNG TIỀN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP I.Những vấn đề lý luận chung về vốn bằng tiền. Khái niệm vốn bằng tiền. Vốn bằng tiền là một bộ phận của vốn sản xuất kinh doanh thuộc tài sản lưu động của doanh nghiệp được hình thành chủ yếu trong quá trình bán hàng và trong các quan hệ thanh toán.
Vốn bằng tiền của doanh nghiệp bao gồm: - Tiền mặt tại quỹ: gồm giấy bạc Việt Nam, ngoại tệ, vàng bạc, kim khí quý, đá quý, ngân phiếu hiện đang được giữ tại két của doanh nghiệp để phục vụ nhu cầu chi tiêu trực tiếp hàng ngày trong sản xuất kinh doanh. - Tiền gửi Ngân hàng: là tiền Việt Nam, ngoại tệ, vàng bạc, kim khí, đá quý mà doanh nghiệp đang gửi tại tài khoản của doanh nghiệp tại Ngân hàng. Đặc điểm vốn bằng tiền. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn bằng tiền vừa được sử dụng để đáp ứng nhu cầu về thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp hoặc mua sắm vật tư, hàng hóa sản xuất kinh doanh, vừa là kết quả của việc mua bán hoặc thu hồi các khoản nợ.
Chính vì vậy, quy mô vốn bằng tiền là loại vốn đòi hỏi doanh nghiệp phải quản lý hết sức chặt chẽ vì vốn bằng tiền có tính luân chuyển cao nên nó là đối tượng của sự gian lận. Vì thế trong quá trình hạch toán vốn bằng tiền, các thủ tục nhằm bảo vệ vốn bằng tiền khỏi sự ăn cắp và lạm dụng là rất Sinh viên: Bùi Thị Ngọc – Msv: 1213401073 – Lớp: QTL602K Page 3 Hoàn thiện công tác kế toán vốn bằng tiền tại Công ty CP TM và VT Hoàng Tiến Đạt quan trọng, nó đòi hỏi việc sử dụng vốn bằng tiền cần phải tuân thủ các nguyên tắc chế độ quản lý tiền tệ thống nhất của Nhà nước. Chẳng hạn, tiền mặt tại quỹ của doanh nghiệp dùng để chi tiêu hàng ngày không được vượt quá mức tồn quỹ mà doanh nghiệp và Ngân hàng đã thỏa thuận theo hợp đồng thương mại, khi có tiền thu bán hàng phải nộp ngay cho Ngân hàng. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn bằng tiền vừa được sử dụng để đáp ứng nhu cầu về thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp hoặc mua sắm vật tư, hàng hóa sản xuất kinh doanh vừa là kết quả của việc mua bán hoặc thu hồi các khoản nợ.
Chính vì vậy, quy mô vốn bằng tiền là loại vốn đòi hỏi doanh nghiệp phải quản lý hết sức chặt chẽ vì vốn bằng tiền có tính luân chuyển cao nên nó là đối tượng của sự gian lận và tham ô. Vì thế trong quá trình hạch toán vốn bằng tiền, các thủ tục nhằm bảo vệ vốn bằng tiền khỏi sự tham ô hoặc lạm dụng là rất quan trọng, nó đòi hỏi việc sử dụng vốn bằng tiền cần phải tuân thủ các nguyên tắc chế độ quản lý tiền tệ thống nhất của Nhà nước. Chẳng hạn, tiền mặt tại quỹ của doanh nghiệp dùng để chi tiêu hàng ngày không được vượt quá mức tồn quỹ mà doanh nghiệp và Ngân hàng đã thỏa thuận theo hợp đồng thương mại, khi có tiền thu bán hàng phải nộp ngay cho Ngân hàng. Yêu cầu quản lý vốn bằng tiền Vốn bằng tiền là bộ phận lớn của vốn lưu động, phản ánh khả năng thanh toán ngay của Công ty để tạo điều kiện cạnh tranh tốt nhất.
Vốn bằng tiền là loại tài sản đặc biệt, là vật ngang giá chung. Do vậy, trong quá trình quản lý rất dễ xảy ra tham ô, lãng phí. Để quản lý chặt chẽ vốn bằng tiền cần đảm bảo tốt các yêu cầu sau: - Tiền mặt phải được bảo quản trong két an toàn, chống mất trộm, chống cháy, chống mối xông. - Mọi biến động của vốn bằng tiền phải đầy đủ thủ tục và có chứng từ gốc hợp lệ.
Sinh viên: Bùi Thị Ngọc – Msv: 1213401073 – Lớp: QTL602K Page 4 Hoàn thiện công tác kế toán vốn bằng tiền tại Công ty CP TM và VT Hoàng Tiến Đạt - Việc sử dụng, chi tiêu vốn bằng tiền phải đúng mục đích, đúng chế độ. Để thực hiện tốt việc quản lý vốn bằng tiền với vai trò công cụ quản lý kinh tế, kế toán cần thực hiện tốt các nhiệm vụ sau: - Phản ánh chính xác, kịp thời từng khoản thu chi và tình hình còn lại của các loại vốn bằng tiền, quản lý nghiêm ngặt việc quản lý các loại vốn bằng tiền nhằm đảm bảo an toàn cho tiền tệ, phát hiện và ngăn ngừa các hiện tượng tham ô, lợi dụng tiền mặt trong kinh doanh. - Giám sát tình hình thực hiện kế toán thu chi các loại vốn bằng tiền, kiểm tra việc chấp hành nghiêm chỉnh chế độ quản lý vốn bằng tiền, đảm bảo chi tiêu tiết kiệm và có hiệu quả cao. Nhiệm vụ của kế toán vốn bằng tiền - Theo dõi tình hình thu, chi, tăng, giảm, thừa, thiếu và số hiện có của từng loại vốn bằng tiền.
- Thường xuyên kiểm tra tình hình thực hiện chế độ quản lý tiền mặt, kỷ luật thanh toán, kỷ luật tín dụng. - Hướng dẫn và kiểm tra việc ghi chép của thủ quỹ, thường xuyên kiểm tra, đối chiếu số liệu của thủ quỹ và kế toán tiền mặt. - Tham gia vào công tác kiểm kê quỹ tiền mặt, phản ánh kết quả kiểm kê kịp thời. Nguyên tắc kế toán vốn bằng tiền Kế toán vốn bằng tiền phải tôn trọng đầy đủ các chế độ, các quy tắc quản lý và lưu thông tiền tệ hiện hành.
Cụ thể: - Hạch toán vốn bằng tiền phải sử dụng một đơn vị tiền tệ thống nhất đó là đồng Việt Nam, trừ trường hợp được phép sử dụng một đơn vị tiền tệ thông dụng. Sinh viên: Bùi Thị Ngọc – Msv: 1213401073 – Lớp: QTL602K Page 5 Hoàn thiện công tác kế toán vốn bằng tiền tại Công ty CP TM và VT Hoàng Tiến Đạt - Ở những doanh nghiệp có ngoại tệ nhập quỹ tiền mặt hoặc tiền gửi Ngân hàng phải quy đổi ngoại tệ ra đồng Việt Nam theo tỷ giá hối đoái tại ngày giao dịch ( tỷ giá thực tế hoặc tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên Ngân hàng do Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh) để ghi sổ kế toán. - Trường hợp mua ngoại tệ nhập quỹ tiền mặt, gửi Ngân hàng hoặc thanh toán công nợ ngoại tệ bằng đồng Việt Nam thì được quy đổi ra đồng Việt Nam theo giá mua hoặc tỷ giá thanh toán. Bên có các TK 1112, TK 1122 được quy đổi ra đồng Việt Nam theo tỷ giá ghi trên sổ sách TK 1112, TK 1122 theo một trong các phương pháp : bình quân gia quyền, nhập trước- xuất trước, nhập sau- xuất trước, thực tế đích danh.
- Nhóm tài khoản có nghiệp vụ kinh tế phát sinh bằng ngoại tệ phải quy đổi ra đồng Việt Nam đồng thời phải hạch toán chi tiết ngoại tệ theo nguyên tệ. Nếu có chênh lệch tỷ giá hối đoái thì tùy theo từng trường hợp cụ thể sẽ được xử lý chênh lệch như sau: + Nếu chênh lệch phát sinh trong giai đoạn sản xuất kinh doanh (kể cả doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản) thì số lãi do tỷ giá được phản ánh vào TK 515 – Doanh thu hoạt động tài chính và lỗ do tỷ giá được phản ánh vào TK 635 – Chi phí tài chính. + Nếu chênh lệch tỷ giá phát sinh trong giai đoạn đầu tư xây dựng cơ bản (là giai đoạn trước hoạt động) thì số chênh lệch được phản ánh vào TK 413 – Chênh lệch tỷ giá hối đoái. + Số dư cuối kỳ của các tài khoản vốn bằng tiền có gốc ngoại tệ phải được đánh giá lại theo tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm lập báo cáo tài chính năm.
Sinh viên: Bùi Thị Ngọc – Msv: 1213401073 – Lớp: QTL602K Page 6 Hoàn thiện công tác kế toán vốn bằng tiền tại Công ty CP TM và VT Hoàng Tiến Đạt - Đối với vàng bạc, kim khí, đá quý phản ánh ở nhóm tài khoản vốn bằng tiền chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp không đăng ký kinh doanh vàng bạc, kim khí, đá quý: + Vàng bạc, kim khí, đá quý phải được theo dõi về số lượng, trọng lượng, quy cách phẩm chất và giá trị của từng thứ, từng loại. Giá trị vàng bạc, kim khí, đá quý nhập vào quỹ được tính theo giá thực tế ( giá hóa đơn hoặc giá thanh toán). + Khi tính giá xuất vàng bạc, kim khí, đá quý có thể áp dụng một trong 4 phương pháp tính giá hàng tồn kho: bình quân gia quyền, nhập trước- xuất trước, nhập sau- xuất trước, thực tế đích danh. Tổ chức công tác kế toán tiền mặt tại quỹ.
Tiền mặt là số vốn bằng tiền do thủ quỹ bảo quản tại quỹ ( két) của doanh nghiệp bao gồm: Tiền Việt Nam, ngoại tệ, vàng bạc, đá quý, kim khí quý, tín phiếu và ngân phiếu. Nguyên tắc hạch toán kế toán tiền mặt.