Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác tạo động lực làm việc cho người lao động ˗ Chương 2: Thực trạng công tác tạo động lực làm việc cho người lao động tại Công ty Cổ phần Trung Kiên ˗ Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác tạo động lực làm việc cho người lao động tại Công ty Cổ phần Trung Kiên. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG 1. Các khái niệm liên quan đến tạo động lực làm việc Trong quá trình làm việc, cùng môi trường nhưng hiệu quả và năng suất lao động của mỗi người lao động là khác nhau, có những cá nhân làm việc rất tích cực, nhưng có những cá nhân làm việc không tích cực, có sự khác nhau này là do động lực làm việc của mỗi cá nhân. Khi người lao động có động lực làm việc sẽ dồn hết khả năng để hoàn thành một cách có hiệu quả công việc được giao, giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu kinh doanh.
Động lực làm việc của người lao động luôn gắn với lợi ích mà họ đạt được, lợi ích càng lớn thì nhu cầu càng được thỏa mãn, người lao động hăng say làm việc hơn. Chính vì thế mà để nắm rõ được khái niệm tạo động lực, việc nắm rõ các khái niệm liên quan đến tạo động lực làm việc như: khái niệm động lực, khái niệm nhu cầu, khái niệm lợi ích là rất cần thiết. Động lực, nhu cầu, lợi ích 1. Động lực Động lực vẫn là một đề tài xuất hiện nhiều trong các cuộc nghiên cứu về hành vi của con người, mỗi nghiên cứu đều có những quan niệm về Động lực theo một góc độ riêng của các tác giả.
Trong nhiều công trình khoa học cho đến nay, các nhà lý luận đã nghiên cứu và thảo luận rất nhiều khái niệm về động lực. Năm 1982, theo Michell thì “Động lực là mức độ cá nhân muốn đạt được và lựa chọn hành động phù hợp”. Tác giả Robbiun (1998) sử dụng thuật ngữ “động lực” với ý nghĩa là “sự sẵn sàng hành động để đạt được những kết quả tốt nhất”. Năm 1994, Higgins đưa ra khái niệm “Động lực là lực đẩy từ bên trong cá nhân để đáp ứng các nhu cầu chưa được thỏa mãn”.
Hoặc “Động lực là những nỗ lực bên trong và bên ngoài của một con người có tác dụng khơi dậy lòng nhiệt tình và sự kiên trì theo đuổi một cách thức hành động đã xác định” [10, tr. Nhìn chung, qua các quan điểm, động lực không chỉ bao gồm những yếu tố nội tại trong tâm hồn và tâm trí của một người (nỗ lực bên trong), mà còn bao gồm những yếu tố bên ngoài, như sự ảnh hưởng của môi trường, người khác, hoặc các sự kiện xã hội. Động lực có thể bắt nguồn từ bên trong cá nhân, như niềm đam mê, sự tự thưởng, hoặc nhu cầu cá nhân. Nó cũng có thể phát sinh từ yếu tố bên ngoài như sự khen ngợi, đòi hỏi từ xã hội, hoặc áp lực từ môi trường.
1 Thư viện ĐH Thăng Long Động lực có vai trò quan trọng trong việc đánh thức lòng nhiệt tình và sự kiên trì của con người. Khi có động lực, người ta thường có động cơ và năng lượng để tự xác định được mục tiêu và làm việc hết mình để đạt được mục tiêu đó, lâu dần tạo thành một chuỗi các hành động liên kết chặt chẽ không thể dễ dàng tách rời. Chính sự kiên trì bất định này là một trong những ưu điểm của động lực. Một khi nhà quản trị hiểu rõ động lực và những giá trị tích cực mà nó mang lại và ứng dụng vào việc quản lý cá nhân và tổ chức, thì sẽ có thể tối đa hóa được hiệu suất làm việc.
Nhu cầu “Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển” [3, tr. Nhu cầu có mối liên hệ mật thiết đối với động lực, bởi nó chính là một trong những yếu tố nội tại bên trong cấu thành nên động lực. Nhu cầu gắn liền với sự tồn tại và phát triển của mỗi con người cũng như các cộng đồng, tập thể. Hệ thống nhu cầu của con người rất phức tạp và được chia thành ba nhóm chính: nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần và nhu cầu xã hội.
Nhu cầu của con người luôn luôn biến đổi và nhu cầu của mỗi người cụ thể trong xã hội là khác nhau. Việc thực hiện các nhu cầu cũng rất khác nhau tuỳ theo từng quan điểm và từng cá nhân. Nhu cầu không được thoả mãn sẽ tạo ra tâm lý căng thẳng, khiến con người luôn phải tìm cách để đáp ứng. Đối với người lao động cũng như vậy, họ luôn bị thúc đẩy bởi trạng thái mong muốn, đòi hỏi để đáp ứng được nhu cầu cá nhân.
Người lao động sẽ luôn nỗ lực để thỏa mãn được những mong muốn này, mong muốn càng lớn thì động lực sẽ càng cao và ngược lại. Lợi ích “Lợi ích là mức độ đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần do công việc đó tạo ra” [9, tr. Đối với người lao động, lợi ích là thành quả nhận được có thể bằng vật chất hoặc tinh thần thông qua bản thân khi họ tham gia lao động sản xuất trong xã hội. Lợi ích có vai trò to lớn trong hoạt động quản lý, trong hoạt động lao động của con người.
Nhu cầu, lợi ích và động lực có mối liên hệ chặt chẽ và tác động lẫn nhau, lợi ích càng lớn sẽ càng thể hiện mức độ thoả mãn nhu cầu càng cao, động lực lao động càng được tạo ra. Vì vậy, các nhà quản trị doanh nghiệp khi tìm hiểu được tâm lý lợi ích của người lao động sẽ có những biện pháp phù hợp để khuyến khích người lao động hăng say giúp đạt hiệu quả công việc tốt nhất. Tạo động lực “Tạo động lực được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong công việc” [3, tr. Tạo động lực là quá trình vận dụng linh hoạt một số các công cụ có ích nhằm khuyến khích động viên và tác động vào nhu cầu của người lao động để tạo nên sự chuyển biến tích cực trong hành vi của họ, hướng theo những mục tiêu mà tổ chức mong muốn.
Vấn đề quan trọng của tạo động lực là nắm bắt được nhu cầu của người lao động, để từ đó có biện pháp kích thích, tạo động lực cho người lao động hăng say làm việc, phát huy tính sáng tạo trong quá trình làm việc để đóng góp cho tổ chức. Tạo động lực không phải là một hoạt động riêng lẻ, mà là sự kết hợp rất nhiều các hoạt động khác nhau để đạt đến mục tiêu chung là kích lệ tinh thần làm việc của người lao động. Người lao động có động lực làm việc sẽ tăng năng suất và chất lượng công việc, đem lại hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp, củng cố sự gắn bó, tận tâm với tổ chức và tăng cường quyền lực cho người lãnh đạo. Các học thuyết tạo động lực làm việc Để tạo động lực làm việc cho người lao động, các nhà khoa học đã đi nghiên cứu các cách tiếp cận nhằm tạo động lực tới các yếu tố tạo động lực cho người lao động.
Mỗi học thuyết có những nhận định riêng. Vì vậy, trong giới hạn và phạm vi nghiên cứu của mình, tác giả chọn bốn học thuyết làm cơ sở lý luận và tiền đề để nghiên cứu là học thuyết hệ thống nhu cầu của Maslow, lý thuyết 2 yếu tố của Herzberg, học thuyết ERG của Alderfer và học thuyết công bằng của Stacy Adams. 3 Thư viện ĐH Thăng Long 1. Học thuyết hệ thống nhu cầu của Maslow Hệ thống nhu cầu do Abraham Maslow xây dựng là một trong các mô hình được sử dụng nhiều nhất trong lĩnh vực nghiên cứu về động lực hành vi.
Ông cho rằng, con người luôn có những nhu cầu, nhu cầu chưa được thoả mãn sẽ tạo ra động lực cho con người. Đồng thời nhu cầu của con người được sắp xếp theo những thứ bậc khác nhau từ thấp tới cao: Hình Hình 1.Tháp Thápnhu nhucầu cầu Maslow Maslow (Nguồn: Giáo trình Quản lý học - NXB Đại học Kinh tế Quốc dân 2012) Nhu cầu sinh lý, vật chất: Ở vị trí thấp nhất trong hệ thống. Đây là tập hợp các nhu cầu quan trọng nhất mà con người luôn cố gắng để thoả mãn trước tiên. Các nhu cầu này thường là những nhu cầu cơ bản và vật chất cần thiết để duy trì sự sống và thoải mái hẳng ngày như nhu cầu về thức ăn, nhu cầu về nước uống, nhu cầu về chỗ ở,.
Đây là những nhu cầu mà nếu không được đáp ứng đầy đủ sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ và sinh tồn của con người. Việc đáp ứng các nhu cầu này là điều kiện tiên quyết để tạo dựng môi trường sống cho mỗi người có thể tồn tại và phát triển. Các nhu cầu khác sẽ bị đẩy xuống hàng thứ yếu nếu nhu cầu này chưa được thoả mãn. Nhu cầu về an toàn: Khi các nhu cầu về sinh lý được đáp ứng, con người sẽ quan tâm tiếp đến đến vấn đề đảm bảo an toàn.
Con người sẽ có sự phân biệt giữa an toàn và không an toàn, hình thành nên những mong muốn chính đáng là được sống và làm việc trong điều kiện được đảm bảo, không thích hoặc thậm chí là từ bỏ môi trường nguy hiểm. Khi nhu cầu đảm bảo an toàn được đáp ứng sẽ giúp người lao động cảm thấy an tâm và thoải mái, từ đó có thể tập trung vào phát triển các nhu cầu cao hơn. Một số khía cạnh và yếu tố liên quan đến nhu cầu về an toàn như: 4 ˗ An sinh xã hội: Nhu cầu đảm bảo an toàn về mặt vật chất, bao gồm ngôi nhà, thức ăn, nước uống và các điều kiện sống cơ bản ˗ An toàn công việc: Nhu cầu làm việc trong môi trường đảm bảo điều kiện làm việc an toàn và có chính sách, biện pháp an toàn lao động ˗ An ninh cộng đồng: Nhu cầu cảm giác an toàn khi tham gia vào các hoạt động cộng đồng và được bảo vệ khỏi tội phạm, nguy cơ xã hội ˗ An toàn tâm lý, tinh thần: Nhu cầu cảm giác an toàn từ những áp lực tâm lý và căng thẳng, mong muốn luôn ở trong các mối quan hệ xã hội và tình cảm an toàn. Nhu cầu xã hội: Sau khi thoả mãn các nhu cầu về sinh lý và được an toàn, con người sẽ hình thành những nhu cầu xã hội.