CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC TẠO ĐỘNG LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm, tầm quan trọng của động lực lao động 1. Khái niệm động lực Động lực (Motivation) là các nhân tố thúc đẩy cá nhân thực hiện một điều gì đó. Từ “Động lực” bắt đầu bằng một từ tiếng Latin “movere” mang ý nghĩa là di chuyển. Do đó, nó hàm ý chỉ một cái gì đó đang đi lên, giữ cho mọi người làm việc và giúp họ đạt được mục tiêu của bản thân.
Thuật ngữ động lực đề cập đến các yếu tố kích hoạt, định hướng và duy trì hành vi của con người. Có rất nhiều quan điểm khác nhau về động lực lao động Trong cuốn sách Multlines: “Động lực là một mức độ mà một cá nhân muốn đạt tới và lựa chọn để gắn kết các hành vi của mình” (Mitchell, 1999, trang 418). Theo Bedeian (1993), động lực được định nghĩa là “Sự cố gắng để đạt được mục tiêu”. Theo Higgins (1994), động lực được định nghĩa là “Lực đẩy từ bên trong cá nhân để đáp ứng các nhu cầu chưa được thỏa mãn”.
Theo Kreitner (1995), động lực là “Một quá trình tâm lý mà nó định hướng các hành vi cá nhân theo mục đích nhất định”. Theo Bolton, động lực được định nghĩa như một khái niệm để “Mô tả các yếu tố được các cá nhân nảy sinh, duy trì và điều chỉnh hành vi của mình theo hướng đạt được mục tiêu”. Theo giáo trình Quản trị nhân lực của Th. Nguyễn Vân Điềm - PGS.
TS Nguyễn Ngọc Quân: “Động lực lao động là kết quả tổng hòa của nhiều yếu tố tác động đến con người trong lao động”. Khái niệm về động lực còn có thể được hiểu rộng, có ba thành phần chính của động lực: + Phương hướng: Mục tiêu buộc các cá nhân phải thực hiện hành động để đạt được mục tiêu. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn mục tiêu của nhân viên. Họ chọn mục tiêu mà họ cho là tốt nhất trong số các lựa chọn thay thế tiềm năng.
+ Cường độ: Mức độ quyết tâm hay mức độ nỗ lực của nhân viên trong quá trình đạt được mục tiêu. Điều này được hiểu là NLĐ đã cố gắng, nỗ lực như thế nào, 6 họ đã bỏ ra bao nhiêu thời gian, công sức hay bất kỳ thứ gì khác về tinh thần hay thể chất trong quá trình hoàn thành mục tiêu. + Bền bỉ: Thời gian mà người nhân viên đó duy trì hành vi đó là bao lâu? Khi đứng trước khó khăn, trở ngại, người nhân viên đó có bỏ cuộc hay bền bỉ, nỗ lực vượt qua. Như vậy, có thể nói rằng, động lực lao động là sự khát khao mang tính tự nguyện xuất phát từ bên trong nội tại con người tạo ra sự nỗ lực làm việc để đạt được mục tiêu đề ra của bản thân cũng như hoàn thành mục tiêu của tổ chức.
Khái niệm tạo động lực làm việc Bản chất của động lực xuất phát từ nhu cầu và sự thỏa mãn nhu cầu của con người. Giữa nhu cầu và sự thỏa mãn nhu cầu có một khoảng cách nhất định và khoảng có cách luôn cần đến động lực để được rút ngắn. Nhu cầu gồm nhiều loại khác nhau có thể chia thành nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần, nhu cầu trước mắt, nhu cầu lâu dài…Sự thỏa mãn được hiểu là sự đáp ứng nhu cầu đến một mức độ nào đó. Không có một nhu cầu nào được thỏa mãn một cách hoàn toàn bởi vì khi một nhu cầu được thỏa mãn về cơ bản thì nó sẽ dần mất đi và được thay thế bởi một nhu cầu mới xuất hiện.
Trong thời đại 4.0 và xu thế hội nhập diễn ra mạnh mẽ, nhận thức về quản trị nguồn nhân lực đang có những thay đổi trên phạm vi toàn thế giới. Theo Matsushita Konosuke, “ Tài sản quý nhất của các doanh nghiệp chính là con người” hay “ Tạo người trước khi tạo vật” để thấy rằng nguồn nhân lực là một nhân tố đặc biệt quyết định đến sự thành bại của mỗi tổ chức, mỗi doanh nghiệp.Có thể thấy rằng, thời gian đầu hầu hết các nhân viên đều hết mình cống hiến cho công việc bởi sự nhiệt huyết, khát khao về những thành tích hay mong muốn để lại ấn tượng sâu sắc đối với cấp trên; nhưng một thời gian sau, nhân viên rất dễ gặp phải trạng thái xuống tinh thần, nhàm chán, hiệu quả không đạt như ban đầu. Trong quản trị nhân lực, để doanh nghiệp có thể sở hữu một nguồn nhân lực chất lượng cao thì phải duy trì và phát huy các biện pháp tạo động lực để có thể giữ chân cũng như thu hút nhân viên, tạo nên sự gắn kết, trung thành và hết mình vì doanh nghiệp. 7 “Tạo động lực lao động là những biện pháp, chính sách, quy định là nhà quản lý sử dụng để kích thích sự hăng say, khao khát, nhiệt tình mang tính tự nguyện trong chính bản thân người lao động để cống hiến cho doanh nghiệp.” “Tạo động lực lao động là tổng hợp các biện pháp và cách ứng xử của tổ chức, của các nhà quản lý nhằm tạo ra sự khao khát và tự nguyện của người lao động cố gắng phấn đấu để đạt được các mục tiêu của tổ chức.” Mô hình tạo động lực cơ bản: Hình 1.
1: Mô hình tạo động lực cơ bản Nguồn: Giáo trình Hành vi tổ chức (2020) Sự thực hiện = f (năng lực, động lực) Sự thực hiện hay chính là kết quả hoạt động phụ thuộc năng lực và động lực. Động lực là nhân tố quan trọng nhưng không phải duy nhất ảnh hưởng đến kết quả hoạt động. Động lực phải kết hợp với năng lực bao gồm: Kiến thức về lĩnh vực kinh doanh: có được thông qua quá trình học tập, lao động góp phần tạo nên khả năng tư duy, nhận thức, phán đoán để đưa ra một quyết định hành động nhanh chóng, kịp thời, đúng mức độ, đúng quy luật. Kỹ năng: phương pháp giải quyết vấn đề, kinh nghiệm, sự khéo léo năng động, sáng tạo khi giải quyết vấn đề.
Kỹ năng có thể do tôi luyện mà tạo thành, có thể do thâm niên, hoặc kỹ năng cũng có thể phần nào do bẩm sinh. Người có kỹ năng vừa có 8 thể giải quyết công việc một cách nhanh chóng vừa tạo nên sự hài lòng cho các bên liên quan. Thái độ, hành vi: thể hiện thông qua sự chủ động trong công việc, sự tập trung, khả năng học hỏi, tuân thủ quy tắc và thái độ hợp tác trong công việc. Một người có thái độ cầu thị, cố gắng sẽ là “ngọn hải đăng” chỉ đường dẫn lối để họ đi đúng hướng và đó cũng là một yếu tố quan trọng giúp cho cấp trên cảm thấy tin tưởng để có thể giao phó nhiều công việc khác nhau, từ đó giúp bản thân phát triển toàn diện.
Trong môi trường ngày nay, người quản lý nhận thức được rằng để tổ chức thành công, nhân viên có kỹ năng và động lực là điều cần thiết. Ngày nay, nhân lực chứ không phải vốn tài chính là điểm khởi đầu và là nền tảng cho sự thành công của một chiến lược của tổ chức. Nói cách khác, thành công của một tổ chức không còn chỉ phụ thuộc vào vốn tài chính hay công nghệ được sử dụng mà ngày càng phụ thuộc nhiều hơn vào bí quyết, chuyên môn và thái độ của nhân viên. Và tất cả ba thuộc tính này của nhân viên thì hoàn toàn có thể được trau dồi, phát triển và nuôi dưỡng trong một tổ chức.3 Tầm quan trọng của tạo động lực lao động * Đối với cá nhân NLĐ Mỗi cá nhân đều có những nhu cầu cần được thỏa mãn cả về vật chất lẫn tinh thần.
Họ làm việc để có thể đáp ứng được những nhu cầu này của bản thân bởi các nhu cầu này có tác động trực tiếp đến chất lượng cuộc sống của họ. Họ có quyền chọn một nơi làm việc có thể đáp ứng tối đa nhu cầu họ mong muốn nhất là trong thời kỳ nền kinh tế cạnh tranh gay gắt bởi các doanh nghiệp thì việc các tổ chức phải có những biện pháp, chính sách tạo động lực nào để có thể thu hút cũng như giữ chân NLĐ là rất quan trọng. Việc kích thích và thỏa mãn NLĐ sẽ giúp cho tổ chức hoạt động hiệu quả và thành công. NLĐ không có động lực lao động khi họ cảm thấy sự cố gắng, thành quả đạt được của họ không tương xứng với những gì mà họ nhận được, từ đó sinh ra trạng thái uể oải, chán nản, thiếu tập trung, họ chỉ đi làm vì nghĩa vụ phải làm trong hợp 9 đồng làm việc mà thiếu đi sự nhiệt huyết, sáng tạo, từ đó khiến cho doanh nghiệp dậm chân tại chỗ, khó phát triển.
Khi có động lực làm việc, tự bản thân NLĐ sẽ có thái độ cầu tiến, tâm lý vui vẻ, thích thú, gắn bó với công việc. Và qua đó cũng giúp NLĐ hoàn thiện bản thân bằng việc tự tìm tòi, nghiên cứu, sáng tạo ra các cách làm mới để tối ưu phương pháp làm việc với thời gian và chi phí thấp nhất, điều đó khiến cho tổ chức luôn luôn chuyển mình theo hướng phát triển toàn diện. * Đối với tổ chức Trong bối cảnh đất nước Việt Nam đang trên đà công nghiệp hóa, hiện đại hóa tuy nhiên với điều kiện cơ sở vật chất còn lạc hậu nghèo nàn thì việc bắt kịp trình độ khoa học tiên tiến trên thế giới là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn. Và một trong những giải pháp tình thế để giải quyết vấn đề trên là tăng năng suất lao động để có thể tạo ra lợi nhuận cao hơn trên cơ sở trang thiết bị và vốn sẵn có do có tốc độ tích lũy vốn nhanh hơn.
Vì lý do trên nên việc tạo động lực lao động đang là mối quan tâm của rất nhiều NLĐ. Không chỉ tăng năng suất lao động mà tạo động lực lao động còn tạo nên sự gắn kết giữa NLĐ và tổ chức giúp giữ chân nhân viên giảm, giảm tỷ lệ nghỉ việc, từ đó giảm thời gian và chi phí để tuyển dụng và đào tạo nhân sự mới. Việc tạo động lực lao động còn làm tăng mức độ hài lòng, niềm tin, sự gắn bó và tận tụy của nhân viên đối với doanh nghiệp, từ đó tạo thành nền tảng để tổ chức tăng doanh số, cải tiến lợi nhuận.2 Một số lý thuyết tạo động lực làm việc cho NLĐ 1.1 Hệ thống thứ bậc các nhu cầu của Maslow Hình 1. 2: Tháp nhu cầu Maslow (Nguồn: Giáo trình Quản trị nhân lực tập II (2009) Tr.